Tin mới:

Trang chủ

Về tác giả

Thư giản

Chuyên mục

Sách hay

Bài báo hay

Câu nói hay

Chân dung

Doanh nhân thế giới

Doanh nhân Việt Nam

Danh nhân thế giới

Danh nhân đất Việt

Nơi cần đến

Sổ tay quản trị

Nghệ thuật sống

Gương sáng

Khám phá

Phong thủy

Nhân tướng học

Sống khỏe

Công cụ quản lý

Dành cho nhân viên

Tư duy sáng tạo

Chuyện của tôi

WTO

Âm nhạc

Thư viện hình

Diễn đàn

Đăng ký

Liên hệ

Gửi bài

2USD
  Tra bài viết
Tháng Chín 2010
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
 <  > 
  KHỔNG TỬ
 

  Từ điển online

Tra theo từ điển:


  Chat
matden89: lam cacnh nao dwoloat ve duoc nhi
nevera: khi nao co ten bai nhac nen noi minh biet voi nhe,minh muon gui tang vai nguoi ban
nevera: bai nhac nen hay that
nevera: hi all
luuhaiphong: chua co ten dau !
le_mon99: ban cho hoi, bai nhac nen cua trang web nay ten gi vay an ?
le_mon99: chao
anhtuan0510: hi


Đăng nhập
  Danh bạ điện thoại
 Mã Vùng  

 Số Thuê bao  


Tin tức » Bài báo hay 08.09.2010 15:56
Thiền định : phương thuốc tân tiến giúp cơ thể thích ứng với trạng thái toàn cầu hoá.
13.10.2008 12:35

Xem hình

Stress : có nghĩa là sự dồn nén, cưỡng ép trên cả hai mặt
sinh lý và tâm lý, một trạng thái căng thẳng thần kinh, gây ra lo âu, sợ
sệt và sau cùng là sự suy nhược cơ thể. Một nhân vật nêu lên trong bài
viết này cho biết chữ stress không có trong ngôn ngữ Tây tạng, người dịch
cũng nghĩ rằng không có trong ngôn ngữ Việt Nam.

Tuy thế, triệu chứng khủng
hoảng của trạng thái căng thẳng thần kinh xảy ra thuờng xuyên chung
quanh ta, nhưng vì ngôn ngữ không đủ khả năng thích ứng kịp thời với hậu
quả của những biến đổi trong xã hội ngày nay để nhanh chóng sáng chế ra
những ngôn từ thích nghi dùng mô tả những triệu chứng ấy mà thôi. Hơn nữa
những triệu chứng này bắt nguồn từ tâm thức nên lại càng khó cho ta nhận
biết hơn nữa. Những phương tiện truyền thông liên tục nêu lên những biến
cố chính trị, chiến tranh, thiên tai, những xung đột trên mọi lãnh vực,
từ tín ngưỡng, chủng tộc, tranh giành lãnh thổ ; đồng thời ảnh hưởng của
các trào lưu văn hoá, từ âm nhạc đến văn chương, lối sống, cách ăn mặc kể
cả những ứng dụng máy móc trong cuộc sống xã hội cũng đang lan tràn một
cách rộng rãi. Nói chung là hiện tượng toàn cầu hoá đã phát triển quá
nhanh, chi phối con người và làm cho con người không thích ứng kịp thời.
Thiền định có thể là một phương pháp giúp con người lấy lại thăng bằng từ
tâm linh đến thể xác. Gần đây, một hội nghị quốc tế được tổ chức tại
Washington (Hoa kỳ) giữa các nhà khoa học và các nhà sư Phật giáo về vấn
đề tâm linh và thiền định.  Đức Đạt-Lai Lạt-Ma được mời thuyết trình
trong hội nghị này. Viện Tâm linh và Sự sống (Mind and Life Institute) tổ
chức thừng xuyên những cuộc gặp gỡ giữa các nhà khoa học nổi tiếng cùng
với Đức Đạt-Lại Lạt-Ma, cũng như với các nhà sư danh tiếng khác trên thế
giới để trao đổi những hiểu biết giữa khoa học và Phật giáo. Phúc trình
và kết quả những lần họp như thế đều được xuất bản thành sách. Dưới đây
là nội dung hội nghị được tổ chức vào cuối năm 2005 và đã được Bác sĩ
Thierry Janssen tóm lược. Bác sĩ Thierry Janssen vừa là một bác sĩ giải
phẩu vừa là một bác sĩ điều trị tâm thần nổi tiếng, ông đã từng xuất bản
nhiều sách về tâm linh. Tôi xin lược dịch bài viết của ông dưới đây :

  



            Nhiều khoa học gia lừng danh thế giới họp nhau để gặp gỡ Đức
Đạt-Lai Lạt-Ma và một số các nhân vật khác về tâm linh trong ba ngày từ
ngày 8 đến 10 tháng 11 năm 2005. Hội nghị do Viện Tâm Linh và Sự sống (Mind
and Life Institute) tổ chức tại Washington, chủ đề chính thức là « sự mềm
dẽo của não bộ ». Hội nghị này được tổ chức vài ngày trước khi khai mạc
Hội nghị thường niên của Hiệp hội Thần kinh học, và chính trong dịp đại
hội của Hiệp hội Thần kinh học, Đức Đạt-Lai Lạt-Ma cũng đã được mới đọc
diễn văn khai mạc.



(JPG)



Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đang thuyêt trình
trong hội nghị tại Washington DR



Sự hiệp lực giữa khoa học và Phật
giáo



 



            Viện Tâm linh và Sự sống có thể là một tấm gương tiêu biểu
nhất cho sự hợp tác và hỗ trợ giữa những ngành học rất khác nhau và sự
hiểu biết đa dạng. Khởi sự gồm có hai người : người thứ nhất là Adam
Engle, một người Mỹ vừa là luật gia vừa là nhà kinh doanh và người thứ
hai là Francisco Varela, gốc nước Chi-li, một nhà sinh học về thần kinh,
tốt nghiệp trường Harvard, giữ chức vụ điều hành và khảo cứu gia của
Trung tâm Khảo cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS : Centre National de la
Recherche Scientifique) tại Paris. Không có gì giúp ta có thể tiên đoán
trước sự gặp gỡ sau này của hai người vừa kể trên đây, ngoài sự kiện cả
hai đều quy y Phật giáo, và cả hai đã nghe nói Đức Đạt-Lai Lạt-Ma là người 
rất quan tâm đến nền khoa học Tây phương. Lại có thêm một người nữa, một
người thứ ba thuộc nữ giới, đó là bà Joan Halifax, giảng dạy về Thiền học
Phật giáo và chuyên gia về pháp thuật, bà này nẩy ra ý định rất hay là tổ
chức cho hai người trên đây gặp nhau vào năm 1985. Sau cuộc gặp gỡ đó của
hai người, Viện Tâm Linh và Sự sống được thành lập. Với chủ đích : thiết
lập đối thoại giữa khoa học và Phật giáo. Hai nền văn hoá đó sẽ ra sức,
tùy theo những phương pháp cá biệt của mỗi ngành, để tìm hiểu bản chất của
thực tại, nhắm vào mục tiêu cải thiện hoàn cảnh con người. Dự án trên
đây là một dự án khá tham vọng. Vì thực tế, không có gì khó hơn là thiết
lập đối thoại mang tính cách xây dựng giữa hai nền văn hoá khác nhau.
Nhưng thực tế cho thấy chỉ hai năm sau đó, cuộc gặp gỡ đầu tiên được tổ
chức tại Dharamsala (Ấn độ) nơi tư thất của nhà lãnh đạo tinh thần của
người dân Tây tạng là Đức Đạt-Lai Lat-Ma và những nhà khoa học. Tiếp
theo đó, khoảng một chục cuộc hội họp nhỏ hơn đã được tổ chức đều đặn
cho đến năm 2003, khi trường Đại học danh tiếng là Massachusetts
Institute of Technology (MIT) mời ông Engel đứng ra tổ chức một hội nghị
ở Boston với một cử tọa rộng lớn hơn nữa. Vào lúc ấy thì ông Francisco
Varela đã qua đời vào tháng 5 năm 2001. [Ghi chú thêm của người dịch : Đức
Đạt-Lại Lạt-Ma được thông báo ông Francisco Varela ngã bịnh và hình như
Ngài đã linh cảm thấy trước sự ra đi của ông này và Ngài đã cho thu băng
video hình ảnh và những lời dặn dò của Ngài để cấp tốc gởi sang Paris
cho ông Francisco Varela nghe trước khi ông từ trần]. Nếu còn sống có lẽ
ông sẽ phải hân hoan lắm khi thấy kết quả đối thoại do Viện Tâm linh và
Sự sống đem đến đang thu hút sự quan tâm cao độ của tất cả cộng đồng
khoa học.



            Cách hai mươi năm trước đây, mấy ai có thể ngờ được lần hội
nghị thứ mười ba của Viện Tâm linh và Sự sống, nêu lên những đối thoại
giữa khoa học và tâm linh lại được hai thể chế uy tín như Đại học Johns
Hopskin ở Baltimore và Đại học Georgetown ở Washington đứng ra hỗ trợ ?
Trong buổi khai mạc Ông Edward Miller, khoa trưởng phân khoa y học Johns
Hopskin đã đứng lên phát biểu như sau : « Sứ mạng của chúng ta là đề cập
đến những lãnh vực  chưa được khám phá và tìm hiểu những gì chưa có thể
hiểu nổi. Chúng ta nên đón nhận những thắc mắc mới để đem đến những giải
đáp mới ». Chủ đề nêu lên trong lần hội họp này là cơ sở khoa học và hiệu
quả trị liệu do thiền định mang đến. Đây là những thắc mắc mà các nhà
nghiên cứu Tây phương đã nêu lên từ lâu. Nhưng từ khi ngành Thần kinh học
thành công với một số tiến bộ mới nhất gần đây, người ta mới bắt đầu tìm
thấy những câu giải đáp. Đó cũng là những gì mà hai nhà khoa học Jon
Kabat-Zinn và Richard Davidson, phụ trách chương trình khoa học cho những
buổi họp đang diễn ra, đã chứng minh qua suốt quá trình thực hiện lâu
dài của họ.


 Một
phương cách chống lại sự căng thẳng thần kinh (stress)



 



            Từ những năm đầu thập niên 1970, nhà sinh học Jon Kabat-Zinn
đã chú tâm đến những phản ứng liên quan giữa thân xác và tâm thức. Sau
đó, ông nhanh chóng nhận thấy muốn nghiên cứu về về sự tương tác giữa
thân xác và tâm thức phải nhờ đến các kỹ thuật thiền định dựa vào khái
niệm « tâm linh tỉnh thức » (pleine conscience – mindfulness). Đó là
cách làm cho tâm thức an bình để buông xả thân xác. Loại bỏ mọi ý nghĩa
phụ thuộc có tính cách tôn giáo, hoặc ngoại lai có tính cách đông phương,
ông đề nghị một danh từ hoàn toàn mang tính cách khoa học cho phương
pháp do ông đề xướng : giảm căng thẳng thần kinh bằng tâm linh tỉnh thức
(mindfulness-based stress reduction : MBSR). Ông Kabat-Zinn giải thích
« đây là cách đưa thiền định vào việc trị liệu của y khoa ». Phương cách
này trước hết là giúp phát huy sự chú tâm vào hiện tại, từng giây phút một
và từng giây phút một. Đó là phương cách thiền định đã được « đơn giản
hoá » mà ông giãng dạy trong Khoa bịnh lý chữa trị căng thẳng thần kinh
(stress) tại Đại học Massachusetts. Chương trình giảng huấn của ông khá
đơn giản : một buổi thiền định kéo dài hai tiếng rưỡi, mỗi tuần một lần
trong tám tuần liền, thêm vào đó mỗi buổi một giờ thực tập tại nhà. Từ
25 năm nay đã có hơn mười lăm ngàn người nhờ vào cách trị liệu này để chữa
trị các chứng bịnh rất đa dạng như các bịnh về tim mạch, sida, đau nhức
kinh niên, xáo trộn tiêu hoá của bao tử và đường ruột, nhức đầu, áp huyết
cao, mất ngủ, lo âu và hoảng sợ. Cách trị liệu bằng thiền định này, tức
là MBSR, đã đem đến nhiều kết quả mỹ mãn, vì thế đã được đem ra giảng dạy
cho sinh viên tại 29 trường Đại học y khoa trên khắp nước Mỹ. Ông Jon
Kabat-Zinn đã giải thích với Đức Đạt-Lai Lạt-Ma như sau : « Điều này đã
làm thay đổi mối tương quan giữa bác sĩ và bịnh nhân ». Nhiều công cuộc
nghiên cứu về y khoa càng ngày càng chứng minh mạnh mẽ hơn về lợi ích của
phép trị liệu trên đây. Trong số những nghiên cứu được đem ra phúc trình
trong buổi hội nghị về Tâm linh và Sự sống, có thể kể ra trường hợp bịnh
vẩy nến (psoriasis) [Ghi chú thêm của người dịch : đây là bịnh mãn tính
ngoài da, da bị những mảng đỏ và tróc ra thành những vẩy trắng], cách trị
liệu bịnh này bằng tia sáng cực tím sẽ mang đến nhiều hiệu quả rõ rệt
hơn nếu phối hợp với phương pháp thiền định MBSR. Ông Kabat-Zinn kết luận
rằng : « Thiền định, nhờ vào tác động của nó trên sự căng thẳng thần
kinh, có thể giữ một vai trò thiết yếu để ngăn ngừa và trị liệu rất nhiều
những bịnh tật liên hệ khác ». Quan điểm này cũng đã được nhiều người
tán đồng, chẳng hạn như ông Robert Salpolky, giáo sư sinh học và thần
kinh học của Đại học Stanford (Hoa kỳ), ông John Sheridan, giáo sư miễn
dịch học Đại học Ohio State University (Hoa kỳ) và bà Esther Sternberg,
giám đốc chương trình khảo cứu về miễn dịch học của Viện Y tế Quốc gia
National Institute of Health (Hoa kỳ), (tương đương với tổ chức INSERM của
nước Pháp).



 Đem các nhà sư vào phòng thí
nghiệm



 



            Ông Richard Davidson là một người bạn từ lâu của ông
Kabat-Zinn, nhưng ông lại dùng một lối nghiên cứu rốt ráo hơn là lối trị
liệu theo kinh nghiệm của ông Kabat-Zinn. Chẳng qua vì ông là một giáo
sư về tâm lý học và tâm thần học tại Viện Đại học Wisconsin (Hoa kỳ), đồng
thời ông cũng là giám đốc một phòng thí nghiệm siêu tân tiến trang bị
máy móc ghi nhận tín hiệu điện lực và hình ảnh bằng cộng hưởng từ (MRI),
những trang bị này đã giúp ông ghi nhận trực tiếp những sinh hoạt của
não bộ. Vì thế ông đã chứng minh cho thấy việc thiền định đều đặn làm
gia tăng sức hoạt động thuộc vùng phía trước của não bộ bên trái (phần
này gọi là võ não thuộc phần trán phía trước : cortex préfrontal), vùng
não này liên hệ đến sự quản lý những xúc cảm tích cực, và do đó đã tạo
ra sức đề kháng hiệu quả hơn về miễn dịch. Sau hai tháng, một cuộc thử
nghiệm về chủng ngừa cho thấy chất kháng thể tiết ra trong cơ thể của những
người thực thi thiền định đều đặn cao hơn hẳn đối với những người không
thiền định.



                        Trong một cuộc thí nghiệm khác, với sự tham dự của
một nhà sư người Pháp là ông Mathieu Ricard [Ghi chú thêm của người dịch :
ông M. Ricard là tiến sĩ khoa học, con của một triết gia, nhà văn, bình
luận gia, thuộc hàn lâm viện của Pháp, chính ông này đã chọn một tên
khác là J.F.Revel vì không muốn cả hai cha con cùng nổi danh dưới một
tên như nhau. Hai người có viết chung một quyển sách tựa đề là « một
nhà sư và một triết gia với Đạo Phật ngày nay
 ». Ông M. Ricard tu
theo Phật giáo Tây tạng và là thông dịch viên tiếng Pháp chính thức của
Đức Đạt-Lai Lạt-Ma. Mẹ ông và chị ông cũng quy y Phật giáo], ông Richard
Davidson và ông Antoine Lutz (một người Pháp, cựu đệ tử của Ông
Francisco Varela), cho thấy sự sinh hoạt não bộ của những người tu hành
đã thực thi hơn mười ngàn giờ thiền định phát ra những làn sóng gamma
nhiều hơn gấp bội so với những người không quen thiền định. Ông Wolf 
Singer, giám đốc viện Max Planck tại Frankfurt (Đức quốc), cũng có tham
dự trong hôi nghị, giải thích vai trò của những làn sóng gamma là làm
gia tăng sự điều hành và phối hợp mọi sinh hoạt của não bộ, giúp nhiều
khu vực của não đồng bộ hoá sự sinh hoạt, và đồng thời cũng nâng cao cấp
bậc tâm linh của những người tu tập thiền định. Đương nhiên, người ta
cũng có thể bắt bẻ rằng nguồn gốc những khả năng đặc biệt này đã có sẳn
từ trước trong những cá thể trên đây và đã góp phần thúc đẩy họ đi tu,
nhưng tuyệt nhiên không phải là những gì mà họ đã đạt được bằng sức mạnh
thiền định kiên trì sau khi đã đi tu rồi. Để trả lời cho giả thuyết này,
hai ông Lutz và Davidson đem ra so sánh những « thành quả » của những
nhà sư đã thiền định suốt bốn mươi ngàn giờ và những nhà sư chỉ thiền định
được mười ngàn giờ. Kết quả hết sức hùng hồn : các nhà sư càng thiền định
được nhiều giờ, số lượng làn sóng gamma của họ phát ra càng cao, và hiện
tượng này không lệ thuộc gì với tuổi tác của họ. Ông Wolf Singer kết luận
như sau : « vì thế hình như sự tập luyện tâm linh có thể đưa đến một dạng
thể tinh thần cởi mở hơn và một thể dạng tâm thức trong sáng hơn ».



(JPG)



Hai ông Richard Davidson và Ricard
Mathieu trước máy chụp hình bằng cộng hưởng từ tính trong phòng thí
nghiêm.



                         Mặt khác, những hình ảnh do cộng hưởng từ tính
ghi nhận sự vận hành của các chức năng của bộ óc cho thấy các nhà sư
sành sõi trong việc thiền định, sức hoạt động của võ não trán thuộc phần
bên trái, liên quan đến những xúc cảm tích cực, gia tăng một cách rõ rệt.
Hơn nữa, khi các các hình ảnh chụp các cảnh tượng đau đớn đưa cho các
nhà sư đang được thí nghiệm xem, tức khắc những vùng não bộ tương ứng với
những vận hành đau đớn đã được các nhà khoa học biết trước liền bị kích
động. Sự kiện này xảy ra giống như thiền định đã kích thích các nhà sư
chuyển sang hành động để cứu giúp những người đang bị đau đớn. Ông
Mathieu Ricard bình luận việc này như sau : « rút lui khỏi thế giới này
để thiền định chắc chắn là cách chuẩn bị để trở nên công minh hơn khi
quay trở về với thế giới chung quanh ».


 Huấn
luyện não bộ



             Khái niệm chính nêu lên trong những
ngày hội thảo của tổ chức Tâm linh và Sự sống là khái niệm về sự mềm dẽo
của não bộ. Khám phá này tương đối mới mẻ : tùy thuộc vào sự vận dụng mà
mạng lưới liên kết các tế bào thần kinh sẽ bị thoái hoá hay ngược lại được
phát sinh thêm và củng cố chặt chẻ hơn. Và cũng như ông Richard Davidson
đã ghi nhận, kết quả từ thiền định hình như đã chứng minh cho thấy các
tín hiệu hoàn toàn mang tính cách tinh thần đủ sức gây ra hiện tượng hủy
hoại hay củng cố mạng lưới liên kết giữa các tế bào thần kinh đã nói đến
trên đây. Một số những biến đổi có thể hiển hiện trong vòng vài phút hay
vài giờ thiền định. Một số những biến chuyển khác, sâu xa hơn, đòi hỏi
thời gian lâu hơn. Vì thế, kỷ cương và thực tập –  những thành phần
thiêt yếu của mọi phương thức thuộc về tinh thần – không những chỉ ảnh
hưởng đền tư duy mà còn gây ra những cải biến thật sự giúp vào việc hoàn
chỉnh sự sắp xếp  các tế bào não, và nhất định hậu quả của việc cải thiện
đó sẽ lan rộng vào sự vận hành của thân xác. Khám phá trên đây đã đem đến
niềm hân hoan cho Đức Đạt-Lăi Lạt-Ma, và cả những người khác nữa như ông
Thomas Keating (tu sĩ người Mỹ dòng Xi-tô), ông Ajahn Amaro (nhà tâm lý
học và nhà sư Phật giáo người Anh), bà Jan Chozen Bays (bác sĩ nhi đồng
và ni sư Phật giáo người Mỹ), bà Joan Halifax [Ghi chú thêm của người dịch :
Joan Halifax là một ni sư Phật giáo nổi tiếng, tiến sĩ về nhân chủng học,
giảng dạy về Thiền học Phật giáo] và tất cả những nhân vật nổi danh khác
về tâm linh trên thề giới đang ngồi rải rác chung với hai ngàn năm trăm
người tham dự suốt trong ba ngày thuyết trình.



             Ông Jack Kornfield, một nhà tâm lý học và cũng là một nhà
sư Phật giáo, tác giả của quyển sách rất dễ thương Sau cơn nhập định
là sự tẩy giặt
(nhà xuất bản La Table Ronde, 2001), đang ngồi cạnh Đức
Đạt-Lai Lạt-Ma, đã lưu ý rằng có hàng ngàn phương cách thực thi « tâm
linh tỉnh thức ». Một trong những phương cách ấy là cách chữa trị bằng sức
mạnh nhận thức dựa vào tâm linh tỉnh thức (mindfulness-based cognitive
therapy : MBCT), đây là phương cách đặc biệt thích ứng với nền y khoa
Tây phương. Đó là cách quan sát những giác cảm trên thân xác và những tư
duy trong tâm thức, từng khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, nhưng
không bám níu vào đó. Phương pháp này, xuất phát từ phương pháp thiền định
MBSR của ông Jon Kabat-Zinn, một phương pháp đang đọ sức ráo riết với
các phương pháp chữa trị khác bằng nhận thức và bằng hành vi thân xác xử
dụng vào việc chữa trị bịnh suy nhược thần kinh và những tái phát dai dẳng
của bịnh này. Kết quả do ông Zindel Segal, giáo sư tâm thần học tại Đại
học Toronto (Gia nã đại), đưa ra thật hết sức hùng biện : cách dùng giả
dược để làm đối chứng thí nghiệm (placebo) cho thấy có 19% kết quả trong
việc chữa trị sự tái phát của bịnh suy nhược thần kinh, trong khi đó
cách thiền định MBCT cải thiện hẳn kỷ lục này và cho thấy 60% trường hợp
được chữa khỏi, như thế kết quả xấp xỉ gần bằng con số 75% so với cách
chữa trị cổ điển bằng sức mạnh nhận thức, với cách trị cổ điển này người
bịnh tập thay đổi những định kiến và cách phản ứng của họ trước những biến
cố trong cuộc sống. Dù sao, các kết quả do bà Helen Mayberg, giáo sư tâm
thần học và thần kinh học thuộc Đại học Emory University, thuộc tiểu ban
Atlanta (Hoa kỳ) có vẽ đã chứng minh cho thấy, trên cấp bậc não bộ,
phương cách tác động của thiền định và hậu quả phát sinh từ phương pháp
thiền MBCT không giống với cách tác động do phương pháp điều trị cổ điển
bằng nhận thức. Hình ảnh ghi nhận được bằng máy chụp cắt lớp do phát xạ
positron (PETScan) cho thấy rằng dạng thể « tâm linh tỉnh thức » tác động
trực tiếp vào trạng thái duy trì sự thăng bằng giữa những khu vực của
não liên quan đến sự vận hành thân xác và những khu vực tác tạo ra tư
duy. Thiền định và phương pháp MBCT chứng tỏ cho thấy đây là một phương
pháp y khoa trị liệu đích thực, hiệu quả trên thể xác và cả phần tâm thức
nữa.


 Làm
thế nào để hội nhập được sự khổ đau gây ra bởi truyền thông ?
 



            Như đã trình bày trên đây, tuy là một cách tu tập tâm linh
xưa cả hàng nghìn năm nhưng thiền định đang trở thành một phương thuốc
chữa trị những khổ đau cho xã hội hiện đại. Chẳng những thiền định không
phải là một phương pháp lỗi thời, mà còn có thể đơn giản được xem như một
phương pháp vượt xa hơn và đi trước thời đại của chúng ta. Bà Esther
Sternberg lưu ý như sau : « không có chữ nào trong ngôn ngữ Tây tạng có
thể dùng để dịch chữ stress ». Tuy thế, nhất định là stress, sự
căng thẳng thần kinh, là cội nguồn của vô số những khổ đau gây ra cho
chúng ta từ tâm thần đến thể xác. Đó là sự sợ hãi, lo âu, căng thằng, đớn
đau, nóng nảy và hung bạo. Ông John Teasdale, một nhà tâm lý học và khảo
cứu gia thuộc Đại học Cambridge (Anh quốc) đã công nhân rằng « thật hết
sức hữu ích nếu biết tập cho mọi người cách điều hòa sự chú tâm của họ,
làm tan biến sự sợ hãi và khai triển cho họ một thái độ trung hoà trước
những biến cố của sự sống ». Vì thế mà Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đã nhắc nhở rằng
« mục đích chính của những đối thoại do Viện Tâm linh và Sự sống nêu lên
là giúp đỡ nhân loại đang làm mồi cho hung bạo ». Bà Jan Chozen Bays tỏ
ra lo lắng vì « sự hung bạo đang được nuôi dưỡng bởi những phương tiện
truyền tin », bà nêu lên sự kiện « bộ óc của chúng ta rất có thể không đủ
sức để nuốt chửng vô số những khổ đau như thế ». Ngày xưa, ta chỉ cần đối
đầu với những khó khăn trong một bộ lạc nhỏ bé. Ngày nay, chính cái khổ
đau của cả thế giới mà truyền hình đã đưa lên và bắt buộc ta phải đối đầu ».



             Theo ý kiến của rất
nhiều chuyên gia đang hiện diện trong hội nghị này tại Washington, sự hiểu
biết tường tận về cách thức vận hành trên phương diện thần kinh học của
thiền định sẽ giúp chúng ta ứng dụng những nguyên tắc ấy vào việc ngăn
ngừa và những phương pháp trị liệu. Ông Ralph Snyderman, giáo sư y khoa
và cựu chủ nhiệm Đại học Duke University (Hoa kỳ) nhận thấy rằng « tất cả
chúng ta, tuy dùng những phương tiện khác nhau, nhưng đã đạt đến được
giai đoạn như ngày hôm nay. Tuy nhiên, tất cả chúng ta vẫn hy vọng có thể
tìm được những phương tiện làm bớt đi sự khổ đau. Và đồng thời, tất cả
chúng ta cũng đều hiểu rằng kỹ thuật đơn thuần không làm được điều đó ».
Chẳng những ta không chối bỏ những gì nền khoa học y khoa đã thực hiện
được, nhưng ta phải nhận thấy rằng đã đúng lúc nên ghép thêm vào nền y
khoa đó những phương pháp trị liệu phát xuất từ những kinh nghiệm hàng
ngàn năm của nhân loại. Bà Jan Chozen Bays thừa hưởng hai nền văn hoá
khác nhau, cả khoa học lẫn tâm linh, lợi điểm đó đã giúp cho bà bắc được
nhịp cầu cần thiết đưa đến phương thức y khoa « hội nhập » trên đây. Bà
nhận định như sau : « nếu như đã chứng minh được việc ẩn cư thiền định
có thể chữa trị được chứng bất an tinh thần, thì cũng rất đúng khi cho rằng
một liêu thuốc chống bịnh trầm cảm đôi khi cũng cần thiết giúp cho người
bịnh thoát ra khỏi vực thẳm để đủ khả năng hoạch định cho mình một
chương trình tu tập về thiền ». 



            Một viên chức của Bộ
Giáo dục Hoa kỳ (U.S. Department of  Education) đang ngồi cạnh tôi đã
quay sang nói với tôi như sau : « Để đối đầu với vấn đề chú tâm và tánh
khí hung hãn nơi học đường, có thể phải đem thiền định để giảng dạy cho
trẻ em từ các lớp nhỏ ». Có thể đây cũng là những gì mà ông Richard
Davidson hằng ước mơ khi ông tuyên bố như sau « một ngày nào đó, ngoài
chương trình ‘’th
ể dục’’, biết đâu con cháu chúng
ta sẽ được thừa hưởng thêm sự hướng dẫn về ‘’cách luyện tập tinh thần và
tâm linh’’ ». Ai mà biết trước được ?



            Dù sao đi nữa, thật hệ trọng phải hiểu rằng vấn đề tâm linh
nêu lên ở đây với ý nghĩa đơn thuần của nó, đứng ra bên ngoài những
thành kiến tôn giáo. Đức Đạt-Lai Lạt-Ma xác định một cách rõ ràng : « đây
không phải là vấn đề đức tin hay lòng tin, nhưng đúng hơn là một mối
quan tâm về đạo đức và luân lý. Chúng ta phải nhận lấy trách nhiệm làm
người của chúng ta và xử dụng trí thông minh của chúng ta để tìm hiểu bản
chất và sự vận hành của tâm thức chúng ta ». Điều minh xác trên đây có
thể trấn an một số khoa học gia còn ngờ vực và chỉ muốn khoa học phải độc
lập với mọi hình thức ảnh hưởng tôn giáo. Đúng vậy, trên thực tế sự
tranh luận thật sôi động. Bằng cớ đã có một kiến nghị do một số bác sĩ
và khảo cứu gia phản đối, chống lại việc Hiệp hội Thần kinh học (Society
for Neuroscience) mời Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đọc diễn văn khai mạc Đại hội của
họ sắp diễn ra tại Washington, vài ngày sau khi hội nghị của Viện Tâm
linh và Sự sống bế mạc. Trong buổi đại hội độc đoán mang nặng tín điều
ấy, Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đưa ra những lời nhắn nhủ như sau : « nếu như
khoa học có thể chứng minh được là sai những điều mà Phật giáo tin tưởng,
thì Phật giáo sẽ thay đổi những điều ấy ngay ». Nhưng thực tế lại bắt buộc
ta phải nhận thấy rằng ngày nay những kết quả xuất phát từ kinh nghiệm
hàng ngàn năm của Phật giáo trùng hợp với những gì do phương pháp khoa học
đã đem đến. Và cả hai phía, Phật giáo và khoa học, đều ôm ấp một hoài bảo
chung là góp phần giúp sức cho sự tiến hoá của nhân loại, vì thế quả thật
hợp lý khi nhìn thấy hai bên chung lưng hợp sức với nhau. Có phải chăng
Isacc Newton đã từng viết như sau : «  con người dựng lên quá nhiều bức
tường, nhưng bắc được quá ít những nhịp cầu » ?



Bures-Sur-yvette, 11.03.07



Người dịch : Hoang Phong



(Theo quangduc.com)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo Luận


Những bản tin khác:
Cảnh báo và hy vọng [17.02.2009 11:15]
Văn hóa để làm gì? [16.11.2008 17:55]
Một cách tiêu đẹp [12.09.2008 11:49]
Giá của tri thức [03.10.2007 22:50]



Lên đầu trang

  Bản tin mới
Văn hóa sáng tạo ở zappos.com
Hai công cụ lãnh đạo thông qua xung đột
Cảnh báo và hy vọng
HAI MẶT TRONG KINH DOANH
Từ chuột sang trâu
Giáo dục sự thật
Văn hóa để làm gì?
Những viên đá lớn
Ba Con Khỉ
sói, gấu và cáo
Thiền định : phương thuốc tân tiến giúp cơ thể thích ứng với trạng thái toàn cầu hoá.
10 viên gạch xây nên chiến lược cạnh tranh của Michael Porter
THIỀN và SỨC KHỎE
Đại học là hàng hóa hay công ích
Đại học giữa hai luận lý
  Đăng nhập
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ
  Nhận bản tin
Email của bạn

Định dạng tin

  Thăm dò dư luận
Bạn thích chuyên mục nào?

 Bài báo hay
 Sổ tay quản trị
 Quan sát mỗi ngày
 Khám phá
 Nghệ thuật sống
 Bài viết tác giả
 Sống khỏe
 Doanh nhân-Danh N
 WTO
 Khác



Kết quả
Những thăm dò khác

Bài trả lời: 42
Thảo luận: 0
  Danh ngôn
Bí quyết để luôn trẻ trung là mỗi ngày học một điều mới!
Không tên.
  Lời khuyên


Lời khuyên

Đừng nên dễ dàng tin vào những gì bạn nghe, đừng tiêu xài hết tiền bạn đang có, không nên muốn ngủ bao lâu thì ngủ bao lâu.
Xin thành thật và thật lòng khi nói câu “I love you”
Bất kể lúc nào khi nói câu “xin lỗi”, xin hãy nhìn thẳng vào mắt của đối phương.
Hãy tin vào tiếng sét ái tình.
Đừng bao giờ coi thường mơ ước của người khác.
Bạn có thể bị tổn thương nếu yêu một người một cách say đắm, nhưng nó là phương pháp duy nhất khiến con người bạn trở nên toàn diện.
Dùng phương pháp tinh vi và xác thật để giải quyết tranh chấp, không nên xúc phạm người khác.
Đừng bao giờ đánh giá con người qua bề ngoài.
Nói từ từ nhưng phải suy nghĩ nhanh.
Khi người khác hỏi những điều mà bạn không muốn trả lời, xin hãy cười và nói “tại sao bạn lại muốn biết điều đó?”
Gọi điện thoại cho mẹ, nếu không thể, ít nhất trong lòng bạn phải nghĩ về mẹ.
Một khi gặp phải thất bại, bạn nên nhớ phải lấy đó làm kinh nghiệm học tập của bạn.
Hãy ghi nhớ ba chữ “trọng”: tôn trọng mình; tôn trọng người khác; giữ lấy tôn trọng, phải có trách nhiệm đối với hành vi của mình.
Đừng nên để việc tranh chấp nhỏ đi hủy hoại tình bạn vĩ đại.
Bất luận lúc nào khi bạn phát hiện bạn làm sai, xin hết lòng tìm cách bù đắp. Phải nhanh chân lên!
Bất luận lúc nào khi bạn nghe điện thoại, khi nhấc điện thoại lên xin bạn hãy cười lên, vì đối phương sẽ cảm nhận được nụ cười của bạn!
Hãy kết hôn với người mà bạn thích chuyện trò với người đó, vì khi bạn già đi, bạn sẽ phát hiện, thích chuyện trò là một ưu điểm lớn.
Nên chấp nhận sự thay đổi, nhưng không phải vứt bỏ quan niệm của mình.
Hãy nhớ rằng, im lặng là vàng.
Hãy dành nhiều thời gian để đọc sách, ít xem ti vi.
Tin tưởng vào thượng đế, nhưng đừng quên khóa cửa.
Khi bạn cãi vã với người yêu, xin hãy giải quyết bằng lý trí, không nên moi những gì đã qua ra nói.
Đừng trốn tránh ngày hôm qua.
Nên chú ý ý nghĩa từng câu nói của bạn.
Cùng chia sẽ kiến thức của bạn với người khác, đó mới là đạo vĩnh hằng.
Hãy làm những gì mà bạn phải làm.
Đừng nên tin người không bao giờ nhắm mắt khi hôn bạn
Mỗi năm ít nhất đi một nơi mà bạn chưa hề đi qua.
Nếu bạn kiếm được nhiều tiền, nên làm nhiều việc thiện khi bạn còn sống, đó là một cách trả báo tốt nhất cho bạn.
Hiểu sâu và lý giải đúng tất cả các quy tắc, hợp lý cải tiến những quy tắc đó.
Ghi nhớ rằng: quan hệ tốt nhất là yêu và cho người khác hơn là yêu cầu người khác.
Hãy nhìn lại mục đích mà bạn thề sẽ đạt được và phân tích mình đã thành công đến mức nào.
Bất luận trong nấu ăn hay trong tình yêu, bạn đều phải dùng 100% trách nhiệm trong thái độ đối xử .


14 điều răn của nhà Phật

1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình 2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá 3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại 4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tỵ 5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình 6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu 7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ti 8. Đáng khâm phục nhất của đời người là vươn lên sau khi vấp ngã 9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng 10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khoẻ và trí tuệ 11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm 12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung 13. Khuyết điểm lớn nhất của đời người là kém hiểu biết 14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.


15 Đoản Khúc Của Cuộc Đời

1. Chớ có đi tìm của cải xa hoa, bởi vì nó chỉ đánh lừa bạn Chớ có đam mê vẻ bề ngoài, bởi vì nó sẽ chóng tàn phai Hãy đi tìm người khiến bạn mỉm cười Bởi vì chỉ có nụ cười mới có thể thắp sáng một ngày tăm tối Hãy cứ hy vọng, rằng bạn sẽ sớm tìm thấy người khiến bạn mỉm cười. 2. Cầu chúc cho bạn có đủ hạnh phúc để trở nên đáng yêu, đủ gian nan để khiến mình mạnh mẽ, đủ nỗi buồn để có lòng nhân ái, đủ hy vọng để biết mình hạnh phúc và đủ tiền để mua những món quà tặng nhau. 3. Khi cánh cửa hạnh phúc đóng lại, cái khác sẽ mở ra Nhưng chúng ta lại thường nhìn quá lâu vào cánh cửa đóng để rồi không thể nhìn thấy cánh cửa nào đang mở sẵn cho ta. Chúng ta không biết có gì chỉ đến khi đánh mất nó Chúng ta cũng chẳng biết đã bỏ lỡ điều gì cho đến khi điều ấy trở lại 5. Hãy luôn đặt ta vào vị trí của người để biết rằng nếu ta đau thì chắc chắn người cũng đau như ta vậy. 6. Khởi nguồn của tình yêu là hãy để người ta yêu được sống như chính họ và đừng cố uốn nắn họ theo hình mẫu của ta Nếu không, ta chỉ yêu hình ảnh phản chiếu của ta trong chính họ mà thôi 7. Có lẽ Chúa muốn ta gặp vài người “khác” trước khi gặp người “ấy” để rồi cuối cùng khi gặp được người “ấy” ta mới biết “món quà” Chúa ban có ý nghĩa biết bao. 8. Chỉ mất một phút để cảm thấy say đắm ai đó, một giờ để thích và một ngày để yêu. Nhưng ta sẽ mất cả cuộc đời chỉ để quên một người 9. Khi bỏ qua tất cả cảm xúc, niềm si mê, sự lãng mạn mà ta vẫn thấy còn yêu thì đó chính là tình yêu. 10. Đáng buồn thay, khi bạn gặp được người rất có ý nghĩa đối với đời bạn thì lại nhận ra người ấy chẳng cùng cảm xúc như bạn. Và bản thân bạn sẽ phải chọn lựa Hoặc ngồi đó mà gặm nhấm nỗi buồn Hoặc để cho điều đó trôi qua mãi mãi 11. Tình yêu bắt đầu bằng một nụ cười, tiến triển bằng một nụ hôn, kết thúc với một giọt nước mắt hay với vòng tay ôm xiết bất tận 12. Tình yêu sẽ đến với những ai vẫn nuôi hy vọng cho dù đã có lần bị phản bội, với những ai vẫn ấp ủ tình yêu cho dù đã có lúc bị chôn sâu trong những vết thương lòng. 13. Sẽ là khổ đau khi yêu ai mà không được đáp lại. Nhưng có gì đớn đau bằng yêu một người mà không tài nào để người ấy biết cảm xúc của ta. 14. Có những điều muốn nghe lại chẳng bao giờ nghe được từ người ta yêu mến Nhưng xin chớ có làm thinh trước những gì mà một người nói với bạn bằng cả con tim 15. Khi sinh ra, bạn khóc trong lúc mọi người xung quanh mỉm cười Hãy sống để khi chết, bạn mỉm cười trong khi những người xung quanh thì khóc Họ khóc vì niềm vui được biết đến bạn

 

Thời gian mở trang: 0.675 giây. Số lần truy cập CSDL: 31
© PHAMPHONG.COM