Tin mới:

Trang chủ

Về tác giả

Thư giản

Chuyên mục

Sách hay

Bài báo hay

Câu nói hay

Chân dung

Doanh nhân thế giới

Doanh nhân Việt Nam

Danh nhân thế giới

Danh nhân đất Việt

Nơi cần đến

Sổ tay quản trị

Nghệ thuật sống

Gương sáng

Khám phá

Phong thủy

Nhân tướng học

Sống khỏe

Công cụ quản lý

Dành cho nhân viên

Tư duy sáng tạo

Chuyện của tôi

WTO

Âm nhạc

Thư viện hình

Diễn đàn

Đăng ký

Liên hệ

Gửi bài

2USD
  Tra bài viết
Tháng Chín 2010
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
 <  > 
  KHỔNG TỬ
 

  Từ điển online

Tra theo từ điển:


  Chat
matden89: lam cacnh nao dwoloat ve duoc nhi
nevera: khi nao co ten bai nhac nen noi minh biet voi nhe,minh muon gui tang vai nguoi ban
nevera: bai nhac nen hay that
nevera: hi all
luuhaiphong: chua co ten dau !
le_mon99: ban cho hoi, bai nhac nen cua trang web nay ten gi vay an ?
le_mon99: chao
anhtuan0510: hi


Đăng nhập
  Danh bạ điện thoại
 Mã Vùng  

 Số Thuê bao  


Tin tức » Nghệ thuật sống 08.09.2010 15:57
THIỀN và SỨC KHỎE
29.09.2008 14:47

Xem hình

Sức khỏe đựơc định nghĩa “ là một tình trạng hoàn toàn sảng khoái
(well-being, bien-être) về thể chất, tâm thần và xã hội, chớ không phải
chỉ là không có bệnh hay tật “ (WHO, Tổ chức sức khỏe thế giới, 1946) .
Một định nghĩa như thế cho thấy cái gọi là “sức khỏe” của một con người
không thể chỉ khu trú vào chuyện có hay không có bệnh, tật; cũng như
không thể đánh giá sức khỏe của một cộng đồng mà chỉ dựa vào tỷ lệ
giường bệnh, tỷ lệ bác sĩ…!

Cái khó ở đây là làm cách nào đánh giá được
“tình trạng sảng khóai” về cả ba mặt, thể chất, tâm thần và xã hội như
định nghĩa đã nêu? Đánh giá sự sảng khoái, sự hài lòng trong cuộc sống
-cũng chính là hạnh phúc- là chuyện không đơn giản chút nào! Chính vì
thế mà mãi nửa thế kỷ sau, WHO mới đưa ra đựơc một bảng “Đánh giá chất
lượng cuộc sống” (Quality of Life Assessement) để cụ thể hóa định nghĩa
sức khỏe đã nêu trên.
WHO định nghĩa Chất Lượng Cuốc Sống (CLCS)
là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của họ trong bối cảnh
văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống, liên quan đến các mục
đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm của họ. Điều dễ thấy
ở đây là cách đo đạc CLCS đặt trọng tâm lên cảm nhận cá nhân của từng
người, cho thấy có cái nhìn khác xưa đối với bệnh tật và sức khỏe lâu
nay chủ yếu dựa vào “cảm nhận” của thầy thuốc và sự “mách bảo” của máy
móc xét nghiệm!
Trên thực tế, người thầy thuốc chỉ có thể chữa đựơc
cái đau mà không chữa đựơc cái khổ, chỉ có thể chữa đựơc cái bệnh mà
không chữa được cái hoạn. Do vậy mà dù khoa học y học ngày càng phát
triển với những thành tựu đáng kinh ngạc nhưng cũng chỉ là manh mún và
thiếu sót, tình trạng tâm thần, tự tử, bạo lực, bất an và các bệnh do
hành vi lối sống gây ra như tim mạch, tiểu đường, béo phì… cứ ngày càng
phát triển! Thiền, phải chăng là một lối thoát?
Cho đến nay, các
nhà y học chính thống và bảo thủ nhất cũng đã phải công nhận thiền là
một phương pháp trị liệu khoa học và hiệu quả trên một số bệnh lý, cũng
như cải thiện cả hành vi và lối sống, đem lại những hiệu quả tích cực
cho sức khỏe của cá nhân và cộng đồng. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về
lâm sàng và về sinh lý học trong thiền nhằm soi sáng nhiều điều trước
đây chỉ được biết qua kinh nghiệm. Nhưng thực ra thiền không dừng ở đó.
Thiền Phật giáo lại còn có những sắc thái riêng biệt, đáng đựơc nghiên
cứu và thể nghiệm.
Khi Phật phát hiện ra con đường dẫn đến an
vui, hạnh phúc, chính Ngài cũng ngại ngùng không muốn tiết lộ, không
muốn bày tỏ, vì con đường đó lạ lùng quá, ngược đời quá, khó có ai tin,
có khi còn gây phản ứng ngược. Mãi sau Ngài mới chịu nói ra, và dĩ
nhiên rất đắn đo, nói từng phần, với mỗi người một cách khác nhau, tùy
đối tượng. Bây giờ các thiền sư chứng ngộ cũng chỉ chọn một vài học trò
có căn cơ để truyền đạt, vì truyền không dễ, nhiều điều “nói không
được”. Học trò phải quan sát trực tiếp ở thầy và phải thực hành miên
mật. Có những học trò uyên thâm mà không đi tới đâu, loay hoay không
thoát; có học trò giã gạo, nấu cơm, không biết chữ mà đại ngộ. Cho nên
tin không dễ! Phật đã chẳng luôn nhắc nhở đừng vội tin, phải thực hành,
phải thể nghiệm, phải trực tiếp lấy thân tâm mình để mà quan sát chiêm
nghiệm cho thật thấu đáo đó ư? Phật đã chẳng luôn nhắc nhở phải tinh
cần, tinh tấn, miên mật, không được lơ là, chểnh mảng việc thực hành đó
ư?

Trong đời sống thường ngày, những người bình thường
như chúng ta cũng có thể có những phút “ngộ”: đời là vô thường, là bóng
câu qua cửa sổ, là bọt bèo, là giấc mộng, Nhưng ta chỉ “ngộ” một chút
rồi quên, rồi “trôi lăn” theo những tham sân si, những quấn quít chằng
chịt không sao thoát nổi! Ngay những triết gia quay quắt tìm kiếm ý
nghĩa cuộc đời, sự hiện hữu của kiếp người cũng vẫn loay hoay với bao
triết thuyết rồi đâu vào đó. Hẳn phải có một con đường khác. Phật khẳng
định có con đường khác đó: “Đây là con đường độc nhất đưa đến thanh
tịnh cho chúng sinh, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí…”. Đó chính
là con đường hạnh phúc mà Phật đã trải nghiệm với nụ cười tự tại trên
môi, con đường nhất quán, xuyên suốt 45 năm tận tụy sẻ chia cho mọi
người từ ngày Thành Đạo. Đó là con đường thực nghiệm, không lý thuyết
suông, không hý luận, được kiểm chứng và có tính phổ quát. Những lời
dạy cuối cùng của Phật cùng các đệ tử cũng đã không quên nhắc lại “con
đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh…” này, bởi sợ rằng
ngày sau người ta lại có thể say mê với những tranh luận, hý luận, mà
quên thực hành, thể nghiệm. Con đường đó chính là thiền định, từ đó dẫn
đến tụê giác, giải thoát rốt ráo.
Thiền đã có từ rất lâu đời. Có lẽ
từ ngày xa xưa con người tình cờ phát hiện ra những giây phút rơi vào
trạng thái an lạc, sảng khoái, siêu thoát nào đó, một trạng thái nói
không được, mà chỉ có thể cảm nhận, trực nhận bởi chính bản thân mình,
rồi tích lũy kinh nghiệm, truyền đạt lại cho nhau bằng nhiều cách.
Chính đức Phật, trong khi tìm kiếm con đường giải thoát, tình cờ nhớ
lại tuổi ấu thơ của mình đã có lần rơi vào trạng thái sơ thiền này mà
nhanh chóng phát hiện ra con đường riêng của mình, con đường không
những “diệt trừ khổ ưu” mà còn dẫn đến “thành tựu chánh trí”. Trước đó
ngài đã từng rời bỏ những con đường thiền khác. Rõ ràng thiền đã có từ
xa xưa nhưng thiền Phật giáo có những sáng tạo riêng.
Thế nhưng
đọc cả chồng sách luận về thiền, ta càng bị tẩu hỏa nhập ma, bởi có lẽ
nó là cái gì đó “bất khả thuyết” và đặc biệt “bất khả đắc” khi ta nóng
lòng muốn “chộp” lấy nó! Nó như thách thức những học giả, những trí
thức mà lại mỉm cười với anh hàng thịt, người gánh rau, bởi nó đòi hỏi
sự tinh tấn thực hành, sự nhẫn nhục thể nghiệm trên chính bản thân mình
hơn là ngàn chương khảo luận.
Có một sự nhất quán, xuyên suốt
trong lời dạy hướng dẫn kỹ năng thiền định của Phật, từ Tứ niệm xứ
(Satipatthàna) tới Thân hành niệm ( Kàyagatàsati), rồi Nhập tức xuất
tức niệm (Ànàpànasati), đó là thở: Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì
biết thở ra. Thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra ngắn thì biết thở
ra ngắn… Tóm lại, đó là luôn bắt đầu bằng sự quán sát hơi thở, đặt niệm
(nhớ, nghĩ) vào hơi thở. Chỉ có vậy. Mà vô vàn. Mà nói không được! Bản
dịch Vịệt nào cũng viết: “Thở vào thì biết thở vào, thở ra thì biết thở
ra…” có thể gây nhầm lẫn ở đây chăng? Thở thì ai mà chả biết thở kia
chứ! Thế nhưng ở đây không phải là biết thở, biết cách thở mà là nhận
thức được (discern, recognize), ý thức rõ (realize), cảm nhận đựơc
(perceive) cái sự thở, cái hơi thở đang đi vào và đang đi ra kia kìa,
đó mới là điều cốt lõi!
Dù gọi là Thiền (Việt) hay Chan (Hoa),
Zen ( Nhật)… thì cũng đều có nguồn gốc từ Dhyana (Sanskrit) hay Jhanas
(Pali). Theo ngữ nguyên thì Jha là nhìn, là quán sát, là theo dõi và
Ana là thở, là hơi thở, là khí. Vậy, jhanas hay dhyana chính là quán
sát hơi thở, nhận thức hơi thở. Đơn giản vậy mà thực ra không giản đơn
chút nào! Nó như là một chìa khóa căn bản. Phải mở cái cửa này đã rồi
các cửa khác mới mở tiếp được.Vấn đề là tại sao và cách nào để chỉ từ
một việc có vẻ rất giản đơn là quán sát hơi thở lại có thể dẫn tới tuệ
giác, một sự chuyển hóa từ “khí” mà thành “trí”?
. Câu hỏi đặt ra
là tại sao quán sát hơi thở? Quán sát hơi thở thì có gì hay? Sao lại
không các đối tượng khác để quán sát? Thật ra thì quán sát cái gì cũng
được cả, bởi tất cả đều là pháp- nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp-
nhưng quán sát hơi thở thì có điều kiện để thấy “ngũ uẩn giai không”
hơn, tức thấy vô ngã hơn. Vô ngã ở đây không còn là một ý niệm, một
khái niệm mà là một trạng thái.
Để thấy “vô ngã” thì tốt nhất là
quán sát từ “ngã”, từ hơi thở chẳng hạn, một đối tượng sẵn có ngay
trong bản thân mình. Tim đập cũng lúc nhanh lúc chậm, nhưng khó theo
dõi, hoàn toàn ngoài ý muốn, khó can thiệp. Dạ dày thì làm vịệc âm
thầm, khó quan sát. Các bộ phận khác cũng vậy. Trừ hơi thở! Hơi thở dễ
quan sát nhất vì nó nằm ngay trước mũi mình, ngay dưới mắt mình! Lúc
nào cũng phải thở. Ở đâu cũng phải thở. Cái hay nữa là quán sát nó thì
không ai nhìn thấy, chỉ riêng ta biết với ta thôi! Mỗi phút lại phải
thở cả chục lần. Lúc mau lúc chậm, lúc ngắn lúc dài, lúc phì phò lúc êm
dịu. Hơi thở lại rất nhạy với cảm xúc. Trước một cảnh đẹp, ta “nín
thở”. Lúc lo âu, ta hổn hển. Lúc sảng khoái ta lâng lâng. Lúc sợ hãi,
hồi hộp ta thở nhiều kiểu khác nhau, muôn hình vạn trạng. Nhờ đó mà
thấy vô thường. Và cũng nhờ đó mà ta quán sát được cái tâm ta. Thở cũng
gắn với các hoạt động cơ bắp, khi mệt, ta “bỡ hơi tai”, mệt đứt hơi,
mệt hết hơi; khi khỏe, ta thở nhẹ nhàng sảng khoái! Nhờ đó mà ta quán
sát được cái thân ta. Rõ ràng chỉ có hơi thở mới là một sợi dây nhạy
cảm buộc vào thân và vào tâm, là cái cầu nối giữa thân và tâm. Không
chỉ thế, thở còn vừa là ý thức, vừa là vô thức. Như không cần ta. Như ở
ngoài ta. Như không có ta. Quan sát thở, ta còn có dịp đào sâu xuống…vô
thức. Ta thấy thở gắn với sự sống chết của kiếp người. Còn sống là còn
thở, chết là hết thở, là tắt thở, là ngừng thở. Để ý một chút ta sẽ
thấy đời người thực ra chỉ là… một hơi thở! Khi chào đời em bé khóc
thét lên một tiếng thật to để hít mạnh không khí vào phổi để rồi khi
lìa đời, cụ già lại thở hắt ra một cái, trả lại cho đời tất cả những gì
mình đã vay mượn! Giữa hai lần thở vào thở ra đó là những đợt thở… lăn
tăn như những làn sóng nhỏ, mà nối kết các làn sóng nhỏ lăn tăn đó lại
với nhau ta có cuộc rong chơi trong cõi “Ta bà”!
Mỗi hơi thở vào
ra trung bình khoảng 5-10 giây. Mỗi giây, trong cơ thể con người đã có
hằng trăm triệu tế bào hồng cầu bị hủy diệt và hằng trăm triệu hồng cầu
khác được sản sinh. Quán sát hơi thở do đó ta thấy đựơc sự sinh diệt.
Thở có thể làm chuyển biến tâm trạng ta, chuyển hóa cảm xúc ta, cả hành
vi ta nữa. Đang sôi giận mà kịp nhớ lại, quán sát sự thở của mình thấy
nó phập phều kỳ cục, tức cười, bèn quên giận mà hơi thở được điều hoà
trở lại lúc nào không hay: điểm hưng phấn trên vỏ não đã bị dịch
chuyển! Nói khác đi, ta có thể dùng quán sát hơi thở để kiểm sóat cảm
xúc và hành vi. Quán sát hơi thở cũng lôi kéo ta trở về hiện tại tức
khắc- không còn đắm mình trong dĩ vãng hay tương lai. Mà hiện tại thì
không có thời gian!
Ta biết sự hô hấp thật sự không phải xảy ra ở
phổi mà ở trong từng tế bào. Đây cũng có thể gọi là “thâm hô hấp”. Ở
các sinh vật đơn bào, khí trao đổi trực tiếp qua da, tức qua màng tế
bào, một cách đơn giản. Ở con cá đa bào, sống dưới nước, thì khí trao
đổi qua mang. Con người do kết hợp đa bào, phức tạp hơn nhiều nên phải
thở qua phổi nhưng vẫn trao đổi khí trực tiếp ở từng tế bào nhờ hệ
thống mao mạch. Do vậy mà khi ta có cách nào đó điều chỉnh được lượng
khí ra vào, hiệu ứng sẽ tác động đến từng tế bào riêng lẻ. Hô hấp diễn
ra trong từng tế bào, nhằm tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động và
tồn tại. Người lao động nặng cần năng lượng gấp ba bốn lần người bình
thường, trong đó hoạt động cơ bắp đã chiếm hết gần một nửa. Riêng não
bộ, với trọng lựơng rất nhỏ bé, chỉ khoảng 2% thể trọng mà đã tiêu dùng
đến 30% khối lượng oxy đưa vào cơ thể. Giận dữ , lo âu, sợ hãi tiêu tốn
rất nhiều năng lượng. Cho nên những lúc đó ta dễ cảm thấy kiệt sức, rã
rời là vậy! Ngủ là một cách giảm tiêu hao năng lượng, nhưng vẫn còn co
cơ, vẫn còn chiêm bao. Một đêm ác mộng sẽ thấy bải hoải toàn thân khi
thức giấc!Thiền giúp tiết giảm tiêu thụ năng lượng một cách đáng kể,
còn hơn cả giấc ngủ. Một khi cơ thể giảm tiêu thụ năng lượng thì các tế
bào được nghỉ ngơi, nên toàn thân cảm thấy nhẹ nhàng sảng khoái. Trạng
thái nhẹ nhàng sảng khóai đó xảy ra trên từng tế bào của cơ thể. Một
cảm giác lâng lâng dễ chịu toàn thân của hành giả, phải chăng đó chính
là trạng thái hỷ lạc (thiền duyệt?).
Phổi ta như một cái máy bơm,
“phình xẹp” để đưa khí vào ra là nhờ có áp suất thay đổi. Khi áp suất
âm trong phổi và các phế nang thì khí bên ngoài tự động lùa vào, tuôn
vào, lấp đầy phổi và các phế nang, cho đến một lúc lượng khí bên trong
đầy dần lên thì chuyển sang áp suất dương, phổi sẽ đẩy khí ra. Có một
thời điểm áp suất cân bằng nhau, hay nói cách khác, áp suất bằng không,
“zéro”, thì khí bên trong cơ thể và bên ngoài vũ trụ chan hòa thành
một, không phân biệt. Đó chính là quãng lặng. Quãng lặng đó ở cuối thì
thở ra – trước khi thở vào trở lại - thường kéo dài, thong dong, nhẹ
nhàng, yên tịnh, vì không hề tốn năng lượng. Như cánh chim lượn bay,
không phải vỗ cánh; như xe ngon trớn ở số không, không tốn nhiên liệu!
Đó chính là giai đoạn “prana”. Pra có nghĩa là trước và ana là thở vào
( cũng có nghĩa là sau thì thở ra). Prana đã được biết đến từ xa xưa.
Yoga của Ấn Độ, khí công của Trung quốc, cũng như y học Đông phương nói
chung đã nói đến từ cổ đại. Trong yoga có pranayama, kiểm soát hơi thở.
Trong thiền định, không còn phải là vấn đề kiểm soát hơi thở nữa mà hơi
thở tự kiểm sóat! Đến một lúc nào đó hành giả không cảm nhận mình thở
nữa. An tịnh. Hòa tan. Tan biến. Có thể nói đến một phương pháp, một kỹ
thuật pranasati ở đây chăng? Những hành giả giàu kinh nghiệm (thiện
xảo) cho biết họ có thể vào định ngay hơi thở đầu tiên có lẽ nhờ rèn
tập mà khoảng lặng của họ ngày càng dài ra, mênh mông ra như không còn
biên giới, như hòa tan vào hư không, lắng đọng, thanh thoát. Lúc đó họ
đã không còn ý niệm về không gian, thời gian, về ta, về người… Tiến
trình hô hấp vẫn diễn ra sâu trong các tế bào (thâm hô hấp), nhưng ở
mức thấp nhất, nhẹ nhàng nhất, tiêu thụ năng lượng tối thiểu và do vậy
nhu cằu sản xuất năng lượng không còn đòi hỏi cao nữa!
Bầu khí
quyển chúng ta thở hôm nay so với cách đây 700 triệu năm - tức là khi
có những sinh vật đơn bào đầu tiên trên trái đất- thì cũng chẳng có chi
khác biệt! Với người anh em đơn bào đó thì ta cũng đang cùng hút chung
một bầu khí, cùng bú chung một “núm vú” vũ trụ, cùng với muôn loài khác
nữa! Các sinh vật cùng chia sẻ một cách… bình đẳng, không phân biệt và
theo nhu cầu như vậy. Ta hút lấy oxy của không khí, lại tạo ra
carbonic; trong khi cây cỏ hút carbonic lại tạo ra oxy. Con thằn lằn,
con tắc kè, con ễnh ương… cũng phình ra xẹp vào như ta vậy. Bầu khí
quyển vẫn không thay đổi, không thêm bớt. Nhưng chính con người có thể
làm hại môi trường sống của mình mà không hay nếu cứ theo đà hủy diệt
sự sống của thiên nhiên và muôn loài trên hành tinh xanh này!
Những cảm giác bức xúc, căng thẳng thường xuyên trong đời sống hằng
ngày gây nguy hại âm thầm nguy hiểm hơn ta tưởng. Cơ thể ta lúc nào
cũng căng cứng, trong tư thế “chiến đấu” hoặc “bỏ chạy” ( fight or
flight response, cũng gọi là stress) nên tiêu hao rất nhiều năng lượng
mà không hay! Tình trạng đó kéo dài gây ra đủ thứ bệnh tật mà bác sĩ và
các máy móc tân kỳ cũng không tìm ra, đành gắn cho cái tên là “mệt mỏi
kinh niên”, “mệt mỏi không rõ nguyên nhân”, “rối lọan chức năng” này nọ
rồi dùng thuốc đè nén cảm xúc đó xuống, do vậy mà ta thấy tình trạng
“trầm cảm” trong dân số cứ ngày càng gia tăng. Cảm xúc mà bị đè nén
mãi, chìm lắng mãi thế nào cũng có lúc bùng lên! Những vụ nổ súng loạn
xạ, nổi cơn điên, tự tử… trở nên dễ hiểu ở nhiều xã hội thừa mứa vật
chất mà tâm thần không an! Những hoạt động của “tâm” tiêu hao rất nhiều
năng lượng của cơ thể. Cho nên có được một cái tâm an là điều kiện đầu
tiên của hạnh phúc, của sức khỏe. Có được cái tâm an lành thì ta tiết
kiệm được năng lượng một cách đáng kể. Nói chung là không mất “hơi sức”
đâu cho những chuyện lăng xăng! Tâm dễ lăng xăng lắm. Đảo điên trăm
thứ. Cho nên mới gọi “tâm viên ý mã”. Thời đại ngày nay, tâm ý không
chỉ là ngựa là khỉ mà còn là… ngồn ngộn những thông tin, kích động từ
mọi phía, càng làm cho tâm náo lọan. Xã hội hiện đại đời sống vật chất
phủ phê mà bệnh tâm thần ngày càng phát triển, tình trạng tuyệt vọng,
tự tử ngày càng gia tăng là vậy!
Âu Mỹ mới đi sâu nghiên cứu về
thiền chừng khoảng hơn nửa thế kỷ nay ( Vakil, 1950), nhưng chỉ 30 năm
gần đây thì thiền mới được coi là một phương pháp trị liệu khoa học
trong y học (Craven. 1980; Haarmon & Myers 1999).Cũng đã có những
nghiên cứu so sánh các kỹ thuật thiền (Woolfolk, 1975). Những nghiên
cứu về sinh lý học giúp thiền ngày càng đựơc hiểu rõ hơn… Hành giả có
thể giảm đến 40% nhu cầu oxy và giảm 50% nhịp thở trong lúc thiền. Lúc
đầu các nhà khoa học nghĩ rằng thiền cũng giống như giấc ngủ hay nghỉ
ngơi tích cực, nhưng qua các nghiên cứu cho thấy thiền khác hẳn, thực
sự là một trạng thái tỉnh giác, ở mức tiêu thụ năng lượng thấp nhất tùy
trình độ hành giả! Ở những hành giả thực hành thiền dài khỏang 30-40
phút thấy mức lactate trong động mạch giảm (Wilson, 1987),
phenylalanine tăng 20% (Jevning, 1977), họat động hệ giao cảm giảm trên
bề mặt da và nhịp tim cũng giảm đáng kể (Cuthbert, 1981). Về nội tiết,
thấy giảm cortisol (hormone chủ yếu của stress) và ACTH (Bevan, 1980;
Kamei, 2000); TSH, GH cũng giảm, trong khi đó arginine vasopressin,
đựơc coi là có vai trò trong học tập và trí nhớ lại gia tăng đáng kể
(O’Haslloran, 1985). Hiện ngày càng có nhiều nghiên cứu về
beta-endorphin, corticotropin, ( Harte, 1995) melatonin (Massion,
1995), DHEA (Glaser, 1992) hứa hẹn giải thích cơ chế tác dụng của thiền
trên nhiều mặt về y sinh học.… Hoạt động điện não đồ EEG cho thấy thiền
có sự khác biệt với nghỉ và ngủ ( Herbert, 1977). Nhờ những tiến bộ về
kỹ thuật thăm dò chức năng não bộ như PET (positron emission
tomography) và nhất là fMRI (functional magnetic resonance imaging) đo
lượng tưới máu não, cho thấy ở thiền giả một số vùng não được tưới
nhiều hơn vùng khác, chứng tỏ thiền không phải là giấc ngủ, trái lại là
một trạng thái an tịnh tỉnh giác (state of restful alertness). Kỹ thuật
fMRI có khả năng chụp cắt lớp từng giây, nên khá chính xác (Lazer, et
al., 2000) cho thấy hoat động tưới máu não gia tăng ở vùng liên quan
đến sự chú ý, vùng kiểm soát tự động, vùng tỉnh thức. Nhưng nói chung,
tưới máu não trong thời gian hành thiền rõ ràng là giảm một cách đáng
kể, chỉ tập trung vào một số vùng nhất định như đã nêu trên. Điều này
cho thấy thiền giả không tiêu hao nhiều năng lượng cho các họat động
của vỏ não. Các nghiên cứu về sinh lý học trong thiền vẫn còn đang tiếp
diễn. Thế nhưng đã chứng minh được thiền có khả năng làm giảm stress,
cao huyết áp, tạo sự sảng khoái, yếu tố của sức khỏe, của chất lượng
cuộc sống. :
Đại học Y khoa Harvard ước lượng có khoảng 60-90% bệnh
nhân đến bác sĩ là do stress. Stress liên quan đến rất nhiều bệnh lý
như nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp, tiểu đường, suyễn, đau nhức kinh
niên, mất ngủ, dị ứng, nhức đầu, đau thắt lưng, một số bệnh ngoài da,
ung thư, tai nạn thương tích, tự tử, trầm cảm, giảm miễn dịch… Stress
gây tăng cholesterol cao hơn thức ăn (Rosenman, 1993). Trong thời kỳ
khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp, người làm việc ở những khu vực dễ
bị sa thải thì chết vi bịnh tim mạch, tai biến mạch máu não cao gấp đôi
các khu vực khác ( Chandola, 2006). Stress là nguyên nhân của 50% các
bệnh nhân mất ngủ, dẫn tới những vấn đề sức khỏe tâm thần. Stress cũng
gây 19% vắng mặt nơi làm việc, 40% bỏ việc, 60% tai nạn xảy ra nơi làm
việc. Theo một thống kê của cơ quan bảo hiểm y tế, thiền giúp giảm thời
gian nằm viện của bệnh nhân và giảm số lần đi khám bệnh ( Orme-Johnson,
1987).
Nghiên cứu đối chứng về cơn đau kinh niên, lo âu, trầm cảm,
thiền làm giảm 50% các triệu chứng tâm thần nói chung và giảm 70% triệu
chứng lo âu (Roth, 1997).
Hành giả thực hành thiền hơn 5 năm có
tuổi già sinh lý trẻ hơn 12 năm so với người cùng tuổi, dựa trên 3 yếu
tố là huyết áp, khả năng điều tiết nhìn gần của thị giác và khả năng
phân biệt của thính giác.
Một nghiên cứu trên học sinh cấp 2 có
thực tập thiền, cho thấy kết quả học tập tốt hơn, có khả năng tập
trung, có thói quen làm việc, cải thiện hành vi (xung đột, hung hãn),
tăng lòng tự tín, khả năng hợp tác và quan hệ với người khác (Harrison,
2004).
Thiền cũng giúp làm giảm cân, giảm béo phì, nghiện thuốc
lá, rượu và các chất ma túy nói chung (Alexander, 1994). Đặc biệt, một
nghiên cứu đối chứng ở 44 bệnh viện cho thấy thiền đã giúp làm giảm sai
sót chuyên môn y khoa đến 50%, đồng thời cũng làm giảm 70% các vụ khiếu
kiện của bệnh nhân đối với bệnh viện ( Jones, 1988). Ở các công nhân kỹ
thuật có thực tập thiền trong 8 tuần lễ cho thấy họ làm việc phấn khởi
hơn, thích thú hơn, nhiệt tâm hơn, giảm thiểu các bệnh cảm cúm thường
gặp trong khi nhóm chứng không có sự thay đổi. Tóm lại, hiệu quả của
thiền đã được chứng minh trong nhiều lãnh vực đời sống.
Khi nói đến
thiền, ta thường nghĩ ngay đến ngồi: ngồi thiền. Rồi nào kiết già, nào
bán già, hết sức phức tạp và bí hiểm như chỉ dành riêng cho một giới
nào đó. Thiền thực ra không nhất thiết phải ngồi, không nhất thiết phải
“kiết già bán già”. Đi đứng nằm ngồi gì cũng thiền được cả. Người Nhật,
người Tây Tạng đều có cách “ngồi” thiền riêng của mình, người Tây
phương còn khác hơn nữa, miễn sao có một tư thế thoải mái, dễ chịu,
buông xả toàn thân là được. Thế nhưng cách ngồi tréo chân (kiết già,
bán già) lại có lợi thế hơn cả. Tại sao? Tại vì khi ta đứng, ta đi, các
bắp cơ phía trước của hai chân phải co lại để nâng đỡ cả thân mình,
trong khi các bắp cơ phía sau thì duỗi ra. Lúc ngồi tréo chân ta đã làm
cho các bắp cơ đổi chiều. Đây là phương pháp “đối chứng trị liệu”. Khi
nào đi bộ lâu, mỏi chân, ta ngồi xuống, xếp bằng và hít thở một lúc sẽ
thấy hai chân bớt mỏi nhanh hơn. Cơ nào đã duỗi lâu thì được co lại, cơ
nào đã co lâu thì được duỗi ra! Thiền hay yoga do vậy khai thác kỹ
thuật này để trị liệu rất có hiệu quả sự mỏi mệt, không kể ngồi theo
cách này cũng giúp làm giảm sự tiêu thụ oxy!
Giữ lưng thẳng đứng
cũng là một yêu cầu vô cùng quan trọng trong thiền. Ta dễ có khuynh
hướng chìu theo độ cong tự nhiên của cột sống dưới sức nặng của thân
thể do trọng lực- và nhất là tuổi tác- do đó dễ dẫn đến cong vẹo cột
sống hoặc đau cột sống cổ, đau thắt lưng. Ở tuổi trung niên nhiều người
đã bị những cơn đau dữ dội đến phát khóc. Đó là những cơn đau cấp tính,
nếu nghỉ ngơi và uống thuốc đúng cách chừng mươi ngày, nửa tháng sẽ
khỏi, nhưng không khỏi hẳn, dễ tái phát do tư thế chưa được điều chỉnh.
Nhưng nguồn gốc sâu xa hơn lại là do cách sống căng thẳng, chịu đựng,
dồn nén lâu ngày. Cơn đau là tiếng chuông báo động để ta “tỉnh ngộ”!
Một người cúi gầm suốt ngày trước máy vi tính hay TV để chơi games
online thì sớm muộn cũng bị những hội chứng về cột sống. Một người quen
đi chùa lạy Phật mà với tư thế không đúng thì lâu ngày cũng bị đau cột
sống như vậy! Nhất là khi đã có tuổi, cột sống có khuynh hướng cứng
lại, mất đàn hồi, các lớp sụn độn giữa hai đốt sống dễ bị bẹp, có khi
“xì” ra một bên, chèn ép gây đau, nhiều khi phải phẫu thuật để chữa.
Giữ lưng thẳng đứng trong lúc ngồi thiền là điều cần thiết. Kết hợp với
tập thể dục bụng, có nghĩa là tập cho thắt lưng được dẻo dai, cũng sẽ
làm chậm tiến trình lão hóa.
Trong thiền, một yếu tố rất quyết định
nữa là sự thả lỏng toàn thân,“buông xả” toàn thân, mà có người ví như
thả trôi theo dòng nước. Thả lỏng toàn thân là cách làm cho toàn thân
như rủ xuống, xẹp xuống, bình bồng, không còn căng cứng nữa! Có thể nói
cơ thể ta như chỉ gồm có hai phần: “thân xác” và “thân hơi”. Thả lòng
là “xì” cho xẹp cái thân hơi đó- mà tiếng Việt ta có một từ rất hay là
xả hơi! Khi quá mệt, quá căng thẳng thì nghỉ xả hơi! Khi đó, không một
bộ phận nào của cơ thể còn phải căng nữa, phải gồng nữa, kể cả vỏ não.
Tiêu hao năng lượng cho trương lực cơ (tonus musculaire) và hoạt động
của vỏ não sẽ giảm thấp nhất có thể được. Y học chứng minh tiêu hao
năng lượng trong thiền rất thấp, dưới mức chuyển hóa cơ bản, thấp hơn
cả khi ngủ, nhờ vậy mà năng lượng được tích lũy tốt hơn.
Cơ thể ta
có hơn mười ngàn tỷ tế bào. Mỗi tế bào thực chất là một cái túi, một
loại “sinh vật” háo ăn, háo làm, háo tiêu thụ oxy- kết hợp với thức ăn
qua những phản ứng gọi là oxyt hóa- để tạo ra năng lượng. Nhưng oxyt
hóa càng mạnh thì càng tạo thêm các gốc tự do và các chất… bã, làm cho
cơ thể mau mệt mỏi, già nua!. Giống như một thanh sắt để ngoài nắng gió
một thời gian sẽ bị oxyt hóa thành rỉ sét. Khi cơ thể có cách nào làm
giảm tiêu thụ năng lượng không cần thiết thì các tế bào cũng sẽ được
nghỉ ngơi.
Khi cơ thể đã chùng xuống, đã giãn cơ, tức giảm tiêu
hao năng lượng một cách đáng kể rồi thì cũng sẽ thấy bớt cần thiết phải
cung cấp các dưỡng chất qua thức ăn như glucid, lipid, protid… vốn là
nguồn tạo năng lượng! Ăn ít đi mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng thì
cơ thể đỡ vất vả, các tế bào đỡ hùng hục làm việc, tinh thần sẽ sảng
khoái. Các nghiên cứu gần đây cho thấy các sinh vật bị cho nhịn đói vừa
phải thì sẽ sống lâu hơn và trẻ hơn. Do vậy mà các thiền giả không có
nhiều nhu cầu về các chất dinh dưỡng được cung cấp bởi thức ăn! Ta thấy
giới, định và tuệ gắn bó chặt chẽ với nhau như một tam giác cân, tác
động hai chiều là vậy!
Danh y Tuệ Tĩnh, thế kỷ XIV ở nước ta đã đúc
kết một lời khuyên: “Bế tinh- Dưỡng khí- Tồn thần / Thanh tâm- Quả dục-
Thủ chân- Luyện hình” . Thử nhìn lại đời sống hiện nay ta thấy: tinh
không bế, khí không dưỡng, thần không tồn, tâm náo lọan… bảo sao các
hiện tượng tâm thần, tự tử, béo phì, tiểu đường, huyết áp… kể cả chiến
tranh, dịch bệnh, thiên tai… chẳng ngày một gia tăng?
Đời sống tiết
độ, tri túc, kham nhẫn, chánh niệm, tỉnh giác… phải chăng có thể góp
phần giải quyết những vấn đề sức khỏe thời đại và bảo vệ môi trường
sống của chúng ta hôm nay?
Đừng tìm đâu cho mất công. Hãy quay về
nương tựa chính mình. Quả đúng như vậy. Bởi nói cho cùng, ai có thể
“thở” giùm ai? Ai có thể “thiền” giùm ai?


(Theo BS Đõ Hồng Ngọc)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo Luận


Những bản tin khác:
Những viên đá lớn [15.11.2008 14:50]
sói, gấu và cáo [31.10.2008 18:18]
Truyện Nàng Bhadda [29.10.2008 20:42]
Thuật Xem Tướng [29.10.2007 21:06]
Sự bình yên [05.06.2004 00:31]
Cho riêng mình [05.06.2004 00:26]
Quy luật hạt giống [05.06.2004 00:24]



Lên đầu trang

  Bản tin mới
Văn hóa sáng tạo ở zappos.com
Hai công cụ lãnh đạo thông qua xung đột
Cảnh báo và hy vọng
HAI MẶT TRONG KINH DOANH
Từ chuột sang trâu
Giáo dục sự thật
Văn hóa để làm gì?
Những viên đá lớn
Ba Con Khỉ
sói, gấu và cáo
Thiền định : phương thuốc tân tiến giúp cơ thể thích ứng với trạng thái toàn cầu hoá.
10 viên gạch xây nên chiến lược cạnh tranh của Michael Porter
THIỀN và SỨC KHỎE
Đại học là hàng hóa hay công ích
Đại học giữa hai luận lý
  Đăng nhập
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ
  Nhận bản tin
Email của bạn

Định dạng tin

  Thăm dò dư luận
Bạn biết website này qua?

 Internet
 giới thiệu
 Khác



Kết quả
Những thăm dò khác

Bài trả lời: 29
Thảo luận: 0
  Danh ngôn
Khi ái tình lên tiếng, lý lẽ phải lặng im.
T.L. PEACOCK.
  Lời khuyên


Lời khuyên

Đừng nên dễ dàng tin vào những gì bạn nghe, đừng tiêu xài hết tiền bạn đang có, không nên muốn ngủ bao lâu thì ngủ bao lâu.
Xin thành thật và thật lòng khi nói câu “I love you”
Bất kể lúc nào khi nói câu “xin lỗi”, xin hãy nhìn thẳng vào mắt của đối phương.
Hãy tin vào tiếng sét ái tình.
Đừng bao giờ coi thường mơ ước của người khác.
Bạn có thể bị tổn thương nếu yêu một người một cách say đắm, nhưng nó là phương pháp duy nhất khiến con người bạn trở nên toàn diện.
Dùng phương pháp tinh vi và xác thật để giải quyết tranh chấp, không nên xúc phạm người khác.
Đừng bao giờ đánh giá con người qua bề ngoài.
Nói từ từ nhưng phải suy nghĩ nhanh.
Khi người khác hỏi những điều mà bạn không muốn trả lời, xin hãy cười và nói “tại sao bạn lại muốn biết điều đó?”
Gọi điện thoại cho mẹ, nếu không thể, ít nhất trong lòng bạn phải nghĩ về mẹ.
Một khi gặp phải thất bại, bạn nên nhớ phải lấy đó làm kinh nghiệm học tập của bạn.
Hãy ghi nhớ ba chữ “trọng”: tôn trọng mình; tôn trọng người khác; giữ lấy tôn trọng, phải có trách nhiệm đối với hành vi của mình.
Đừng nên để việc tranh chấp nhỏ đi hủy hoại tình bạn vĩ đại.
Bất luận lúc nào khi bạn phát hiện bạn làm sai, xin hết lòng tìm cách bù đắp. Phải nhanh chân lên!
Bất luận lúc nào khi bạn nghe điện thoại, khi nhấc điện thoại lên xin bạn hãy cười lên, vì đối phương sẽ cảm nhận được nụ cười của bạn!
Hãy kết hôn với người mà bạn thích chuyện trò với người đó, vì khi bạn già đi, bạn sẽ phát hiện, thích chuyện trò là một ưu điểm lớn.
Nên chấp nhận sự thay đổi, nhưng không phải vứt bỏ quan niệm của mình.
Hãy nhớ rằng, im lặng là vàng.
Hãy dành nhiều thời gian để đọc sách, ít xem ti vi.
Tin tưởng vào thượng đế, nhưng đừng quên khóa cửa.
Khi bạn cãi vã với người yêu, xin hãy giải quyết bằng lý trí, không nên moi những gì đã qua ra nói.
Đừng trốn tránh ngày hôm qua.
Nên chú ý ý nghĩa từng câu nói của bạn.
Cùng chia sẽ kiến thức của bạn với người khác, đó mới là đạo vĩnh hằng.
Hãy làm những gì mà bạn phải làm.
Đừng nên tin người không bao giờ nhắm mắt khi hôn bạn
Mỗi năm ít nhất đi một nơi mà bạn chưa hề đi qua.
Nếu bạn kiếm được nhiều tiền, nên làm nhiều việc thiện khi bạn còn sống, đó là một cách trả báo tốt nhất cho bạn.
Hiểu sâu và lý giải đúng tất cả các quy tắc, hợp lý cải tiến những quy tắc đó.
Ghi nhớ rằng: quan hệ tốt nhất là yêu và cho người khác hơn là yêu cầu người khác.
Hãy nhìn lại mục đích mà bạn thề sẽ đạt được và phân tích mình đã thành công đến mức nào.
Bất luận trong nấu ăn hay trong tình yêu, bạn đều phải dùng 100% trách nhiệm trong thái độ đối xử .


14 điều răn của nhà Phật

1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình 2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá 3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại 4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tỵ 5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình 6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu 7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ti 8. Đáng khâm phục nhất của đời người là vươn lên sau khi vấp ngã 9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng 10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khoẻ và trí tuệ 11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm 12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung 13. Khuyết điểm lớn nhất của đời người là kém hiểu biết 14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.


15 Đoản Khúc Của Cuộc Đời

1. Chớ có đi tìm của cải xa hoa, bởi vì nó chỉ đánh lừa bạn Chớ có đam mê vẻ bề ngoài, bởi vì nó sẽ chóng tàn phai Hãy đi tìm người khiến bạn mỉm cười Bởi vì chỉ có nụ cười mới có thể thắp sáng một ngày tăm tối Hãy cứ hy vọng, rằng bạn sẽ sớm tìm thấy người khiến bạn mỉm cười. 2. Cầu chúc cho bạn có đủ hạnh phúc để trở nên đáng yêu, đủ gian nan để khiến mình mạnh mẽ, đủ nỗi buồn để có lòng nhân ái, đủ hy vọng để biết mình hạnh phúc và đủ tiền để mua những món quà tặng nhau. 3. Khi cánh cửa hạnh phúc đóng lại, cái khác sẽ mở ra Nhưng chúng ta lại thường nhìn quá lâu vào cánh cửa đóng để rồi không thể nhìn thấy cánh cửa nào đang mở sẵn cho ta. Chúng ta không biết có gì chỉ đến khi đánh mất nó Chúng ta cũng chẳng biết đã bỏ lỡ điều gì cho đến khi điều ấy trở lại 5. Hãy luôn đặt ta vào vị trí của người để biết rằng nếu ta đau thì chắc chắn người cũng đau như ta vậy. 6. Khởi nguồn của tình yêu là hãy để người ta yêu được sống như chính họ và đừng cố uốn nắn họ theo hình mẫu của ta Nếu không, ta chỉ yêu hình ảnh phản chiếu của ta trong chính họ mà thôi 7. Có lẽ Chúa muốn ta gặp vài người “khác” trước khi gặp người “ấy” để rồi cuối cùng khi gặp được người “ấy” ta mới biết “món quà” Chúa ban có ý nghĩa biết bao. 8. Chỉ mất một phút để cảm thấy say đắm ai đó, một giờ để thích và một ngày để yêu. Nhưng ta sẽ mất cả cuộc đời chỉ để quên một người 9. Khi bỏ qua tất cả cảm xúc, niềm si mê, sự lãng mạn mà ta vẫn thấy còn yêu thì đó chính là tình yêu. 10. Đáng buồn thay, khi bạn gặp được người rất có ý nghĩa đối với đời bạn thì lại nhận ra người ấy chẳng cùng cảm xúc như bạn. Và bản thân bạn sẽ phải chọn lựa Hoặc ngồi đó mà gặm nhấm nỗi buồn Hoặc để cho điều đó trôi qua mãi mãi 11. Tình yêu bắt đầu bằng một nụ cười, tiến triển bằng một nụ hôn, kết thúc với một giọt nước mắt hay với vòng tay ôm xiết bất tận 12. Tình yêu sẽ đến với những ai vẫn nuôi hy vọng cho dù đã có lần bị phản bội, với những ai vẫn ấp ủ tình yêu cho dù đã có lúc bị chôn sâu trong những vết thương lòng. 13. Sẽ là khổ đau khi yêu ai mà không được đáp lại. Nhưng có gì đớn đau bằng yêu một người mà không tài nào để người ấy biết cảm xúc của ta. 14. Có những điều muốn nghe lại chẳng bao giờ nghe được từ người ta yêu mến Nhưng xin chớ có làm thinh trước những gì mà một người nói với bạn bằng cả con tim 15. Khi sinh ra, bạn khóc trong lúc mọi người xung quanh mỉm cười Hãy sống để khi chết, bạn mỉm cười trong khi những người xung quanh thì khóc Họ khóc vì niềm vui được biết đến bạn

 

Thời gian mở trang: 0.661 giây. Số lần truy cập CSDL: 31
© PHAMPHONG.COM