Tin mới:

Trang chủ

Về tác giả

Thư giản

Chuyên mục

Sách hay

Bài báo hay

Câu nói hay

Chân dung

Doanh nhân thế giới

Doanh nhân Việt Nam

Danh nhân thế giới

Danh nhân đất Việt

Nơi cần đến

Sổ tay quản trị

Nghệ thuật sống

Gương sáng

Khám phá

Phong thủy

Nhân tướng học

Sống khỏe

Công cụ quản lý

Dành cho nhân viên

Tư duy sáng tạo

Chuyện của tôi

WTO

Âm nhạc

Thư viện hình

Diễn đàn

Đăng ký

Liên hệ

Gửi bài

2USD
  Tra bài viết
Tháng Chín 2010
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
 <  > 
  KHỔNG TỬ
 

  Từ điển online

Tra theo từ điển:


  Chat
matden89: lam cacnh nao dwoloat ve duoc nhi
nevera: khi nao co ten bai nhac nen noi minh biet voi nhe,minh muon gui tang vai nguoi ban
nevera: bai nhac nen hay that
nevera: hi all
luuhaiphong: chua co ten dau !
le_mon99: ban cho hoi, bai nhac nen cua trang web nay ten gi vay an ?
le_mon99: chao
anhtuan0510: hi


Đăng nhập
  Danh bạ điện thoại
 Mã Vùng  

 Số Thuê bao  


Tin tức » Bài báo hay 08.09.2010 15:23
Đại học là hàng hóa hay công ích
29.09.2008 14:29

Xem hình

Đại học là hàng hóa hay là công ích? Con người là con người gì mà đại học nhắm đến trong nhiệm vụ đào tạo của mình? Đâu là những giá trị, những phúc lợi mà đại học mang đến cho xã hội, và những phúc lợi, giá trị đó có tính ra bằng tiền được không?

Các
anh chị thân mến, thế hệ chúng tôi đã học bài “tập đọc và học thuộc
lòng” thế này trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp ba:“Bác hỏi tôi đi học
để làm gì, tôi xin nói bác nghe. Tôi đi học để biết đọc, biết viết,
biết tính toán ...” Đó là tóm tắt câu mở đầu. Và câu cuối là: “Nhưng
tôi đi học cốt nhất là biết luân lý, để hiểu cách ăn ở thành người con
hiếu thảo, người dân lương thiện”. Hiểu rộng ra là để làm người.


Đồng
thời với chúng tôi hồi đó, tại mẫu quốc, các cậu bé của nước Đệ Tam
Cộng Hòa Pháp được dạy để làm công dân dưới mái trường mà mỗi giáo viên
tiểu học là một người lính tiền phong chống lại giáo dục của Nhà Thờ
ngự trị qua bao thế kỷ.


Học
để làm người, học để làm công dân, học để tự do, quan niệm giáo dục như
một công ích đó ngày nay đã nhường bước cho môt khuynh hướng khác, xem
tất cả đều là thị trường, nhà trường cũng chỉ là nơi mua bán, ít ra là
ở cấp đại học. Tôi nhấn mạnh hai chữ “khuynh hướng”, bởi vì giáo dục
chưa trở thành hoàn toàn thương mại ở bất cứ đâu, dù là Mỹ, và bởi vì,
khắp nơi, khái niệm công ích vẫn còn được sử dụng, hoặc để chống trả,
hoặc để che đậy một thực tế đã đổi khác.









Các bài viết cùng chủ đề

Việt Nam đang đi theo triết lý giáo dục nào?

GS.Cao Huy Thuần: Đại học là hàng hóa hay công ích? (1)


GS. Cao Huy Thuần: Đại học giữa hai luận lý


Giáo dục VN: Loay hoay tìm cách phát minh lại... cái bánh xe

Nhưng
dù che hay chắn, khuynh hướng thương mại đang ở trên đà thắng thế khắp
nơi, và tình trạng che chắn ngày nay được xem như giai đoạn chuyển
tiếp, giao thời, cái cũ đang bị cuốn đi dưới dòng lũ của toàn cầu hóa.
Nêu viễn tượng đó lên trước hội thảo này, tôi không nghĩ là động đến
vấn đề gì mới, mua bán trong nhà trường là chuyện bình thường ở ta.
Nhưng nêu lên để suy nghĩ về chức năng của đại học trước thách thức của
thời đại mới thì chắc không đến nỗi thừa.


Vậy,
đại học là hàng hóa hay là công ích? Con người là con người gì mà đại
học nhắm đến trong nhiệm vụ đào tạo của mình? Đâu là những giá trị,
những phúc lợi mà đại học mang đến cho xã hội, và những phúc lợi, giá
trị đó có tính ra bằng tiền được không? Tôi sẽ lần lượt trình bày hai
quan điểm: quan điểm “đại học hàng hóa” và quan điểm chủ trương sống
chung với khuynh hướng của thời đại để bảo vệ cái gì có thể và cần phải
bảo vệ. Đó cũng là quan điểm của tôi.

Đại học thương mại hóa


Từ
đâu đại học trên thế giới, dưới đà lôi cuốn của các nước kỹ nghệ, đi
vào con đường thương mại hóa? Từ sự lấn lướt của chủ nghĩa tân tự do.
“Đại học hàng hóa” dựa trên cơ sở triết lý về con người của chủ nghĩa
này; bởi vậy, tôi phải bắt đầu với ý thức hệ này trước khi đi vào những
vấn đề cụ thể.


Chủ nghĩa tân tự do









Giáo dục giữa hai luận lý


Cũng
như tự do chủ nghĩa, tân tự do xem thị trường - tự do và cạnh tranh -
là phương pháp hay nhất, nếu không muốn nói là duy nhất, để thực hiện
tiến bộ kinh tế, xã hội và cả chính trị. Chống lại mọi hình thức điều
tiết thị trường bằng một luật nào khác ngoài luật cung cầu, tân tự do,
cũng như tự do chủ nghĩa, đòi Nhà nước phải rút lui, về mặt quốc gia
cũng như quốc tế.


Nhưng
tân tự do còn là một triết lý về con người, và chính ở đây nó liên quan
đến giáo dục. Tân tự do nhìn mỗi con người như là một doanh nhân, đang
quản trị đời sống của mình như là doanh nhân, trong mọi hành động, mọi
lĩnh vực. Chọn bạn, chọn vợ chồng, chọn thể thao, giải trí, chọn việc
làm ... nhất nhất đều phải ứng xử như là doanh nhân. Thị trường mà
thôi: chưa đủ. Phải như thế này mới đúng: không có cái gì mà không phải
là thị trường. Vậy, bất cứ làm gì và trong lĩnh vực nào, mỗi cá nhân là
một con người lựa chọn tự trị, có khả năng lựa chọn và phải hành xử khả
năng đó để mình mới thực sự là mình.


Để
cá nhân thực hiện toàn vẹn khả năng đó, môi trường sống chung quanh
cũng phải được xây dựng theo mô hình tân tự do: xã hội cũng tự trị, Nhà
nước rút lui, thông tin dồi dào, truyền thông tự do, kỹ thuật tân tiến
... Con người ở đây là con người cực kỳ duy lý, hoạt động trong một thế
giới cạnh tranh - tự do và toàn vẹn. Tương quan giữa con người và môi
trường sống đó làm phát triển một “văn hóa doanh nghiệp” biểu lộ trên
mỗi hành động của cá nhân và thể hiện qua những giá trị được xã hội
chấp nhận. Ai chuyển tải những giá trị đó nếu không phải là nhà trường?


Để
phát triển con người tính toán thuần lý và vị kỷ đó, giáo dục tân tự do
cầu viện đến lý thuyết “vốn con người“ do các kinh tế gia tân cổ điển
xướng xuất từ những năm 1960, bây giờ trở nên ngọn đuốc soi đường cho
các hãng tuyển dụng nhân lực. “Vốn con người” được định nghĩa là “cái
kho tri thức có thể tính thành giá trị về kinh tế mà một người có thể
tích lũy”.[1]


Trước
hết, đó là những thành tựu thu thập được do đào tạo hoặc do kinh nghiệm
nghề nghiệp. Rộng hơn, đó là những điểm son mà một cá nhân có thể trưng
ra trên thị trường lao động hòng được mắt xanh của các nhà tuyển dụng
chấp nhận như những nguồn giá trị tương lai: diện mạo, khéo léo, tài
giao tế, năng khiếu gây thiện cảm...

Nhà kinh tế Mỹ Edward
Denison đã cố chứng minh từ 1967 rằng tăng trưởng kinh tế gắn liền
không những vào việc tăng số lượng của những yếu tố sản xuất - tư bản
và lao động - mà còn vào phẩm chất của nhân công, phẩm chất do giáo dục
tạo ra một phần. Bất cứ lúc nào, bên cạnh vốn tài chánh và vật chất,
phải kể đến vốn giáo dục nằm nơi toàn thể dân số lao động.[2]


Như
vậy, chi phí về giáo dục phải xem như là của cải đầu tư hơn là của cải
tiêu thụ. Nhưng “đầu tư trong kiến thức”, dưới mắt các lý thuyết gia
của“vốn con người”, là đầu tư với một ý nghĩa cực kỳ vị kỷ: đầu tư vào
một nguồn vốn đặc biệt, không tách rời khỏi cá nhân, để tăng sức sản
xuất của cá nhân. Gary Becker, giải Nobel 1992, giải thích: “vốn con
người” là một của cải tư, mang đến lợi tức cho người có cái vốn đó.[3]


Người
đó có những nguồn vốn riêng mà y tìm cách làm tăng trưởng suốt đời để
tạo thêm cho y sức sản xuất, lợi tức, và những lợi lộc khác về mặt xã
hội. Y tính toán: mình học thêm, tay nghề của mình cao hơn, năng suất
cao hơn, lương nhiều hơn, hàng cao giá hơn. Nghe rất lọt tai, nhưng
giáo dục, đáp ứng tính toán duy nhất vị kỷ đó, từ khước cái nhìn rộng
hơn về xã hội, trở thành món hàng trưng bày ra trước những người tiêu
thụ tự do, trên một thị trường tự do, trả giá giữa tư nhân với nhau. Ăn
ý với chủ thuyết tân tự do,“vốn con người” ngày nay là ngôn ngữ đầu
lưỡi của các tổ chức kinh tế và tài chánh quốc tế, ý thức hệ đắc thắng
của trật tự mới về giáo dục trên thế giới.[4]


Cũng
vậy, tác dụng của chủ nghĩa tân tự do trải rộng trên khắp xã hội, không
riêng gì trên kinh tế. Tấn công của tân tự do là tấn công của một hợp
lý hóa toàn diện trên khắp các định chế chính trị, xã hội ngày nay: tất
cả đều phải hoạt động theo những nguyên tắc của thị trường, trong đó
mỗi người theo đưổi những mục tiêu tư, cạnh tranh với tất cả những
người khác, không có liên hệ gì với nhau ngoài sự đồng ý trên những lợi
ích tư. Xã hội sẽ thay đổi toàn diện nếu luận lý ấy được áp dụng tận
cùng: hoàn cảnh nào cũng đều trở thành hoàn cảnh thị trường, quan hệ
nào cũng là quan hệ cạnh tranh, cái đầu của ai cũng phải là cái đầu
doanh nghiệp, người nào cũng là con người tự lập tính toán vị kỷ, ai ai
cũng phải tích lũy lợi ích riêng tư, kẻ nào láng cháng tính toán sai sẽ
bị trừng phạt, mọi cơ hội đều phải khai thác để làm lợi cho chính mình
... Tất cả những giá trị đó được xem như là động cơ làm bật lên đà
thăng tiến cho cả xã hội. Lịch sử tiến theo chiều hướng họp lý hóa như
Weber đã tiên đoán; có điều là hợp lý hóa ở đây không phải là hợp lý
hóa kiều bàn giấy mà là hợp lý hóa kiểu tư bản.


Dưới
ánh sáng của chủ nghĩa tân tự do như vậy, tổ chức đại học thế nào là
hợp lý? Nói rõ hơn: vì đại học là nơi sản xuất kiến thức, phải quan
niệm kiến thức như thế nào để hợp với luận lý của tân tự do?


Kiến thức hợp lý hóa









Kiến thức hợp lý hoá

Câu
hỏi nêu trên được đặt ra trong bối cảnh chung của kinh tế thế giới, với
hai đặc điểm có liên quan đến đại học: một là thị trường nghiễm nhiên
trở thành luật chung; hai là Nhà nước phúc lợi ở đâu cũng đang bị khủng
hoảng. Luật của thị trường buộc đại học phải cạnh tranh; khủng hoảng
trong ngân sách của Nhà nước buộc đại học phải tự trị để tìm nguồn vốn
bên ngoài - nghĩa là tư. Trong hoàn cảnh đó, tranh luận về kiến thức,
bị khuynh hướng mới dẫn đường, không ngừng ở chỗ kiến thức có phải là
hàng hóa hay không mà là: hợp lý hóa nó như thế nào.


Hàng
hóa? Đâu cần con mắt của kinh tế gia, ngay cả triết gia cũng thấy: từ
1984, J-F. Lyotard, tác giả Pháp được thế giới nhắc nhở nhiều trong
tranh luận này, đã viết: “Mối quan hệ giữa những người cung cấp
kiến thức cùng những người sử dụng kiến thức với kiến thức mà họ cung
cấp và sử dụng ngày nay gần giống như mối quan hệ giữa những người sản
xuất ra một sản phẩm cùng những người tiêu thụ sản phẩm với sản phẩm mà
họ sản xuất và tiêu thụ - nghĩa là mang hình thức của giá trị. Kiến
thức đang được và sẽ được sản xuất để bán và tiêu thụ, để tăng trưởng
giá trị trong một quy trình sản xuất mới: trong cả hai trường hợp, mục
tiêu là trao đổi. Kiến thức không còn là mục tiêu của chính nó ... Hầu
như ai cũng chấp nhận rằng kiến thức đã trở thành sức mạnh chính của
sản xuất trong những thập niên vừa qua
”.[5]


Kết
luận hợp lý cụ thể mà đại học phải rút ra là: vì cạnh tranh kinh tế
trên thế giới đặt kiến thức vào vị thế hàng đầu, đại học buộc phải phát
triển ưu tiên những ngành khoa học / kỹ thuật nào mang lại nhiều hứa
hẹn nhất để thắng lợi trong cạnh tranh. Nói rõ: sẽ có những ngành khoa
học quan trọng hơn những ngành khoa học khác. Vậy: đâu là chức năng của
khoa học, khoa học có phải là để khám phá ra sự thật nữa hay không, hay
là đã trở thành khoa học-áp dụng? Nếu khoa học chỉ có mục đích cụ thể
hạn hẹp như thế thì, cùng với nó, đại học và cả hệ thống xã hội, đều
phải quỳ dưới chân của nguyên tắc hiệu quả, sinh lợi - bà chúa của quản
trị, của kinh doanh.


Từ
kiến thức được quan niệm như món hàng, đại học, nơi sản xuất ra kiến
thức, hân hoan nhập cuộc vào guồng máy tư bản, vào kinh tế thị trường,
để trở thành đại học thị trường, vừa phục vụ thị trường, vừa tự mình
cải hóa thành thị trường - thị trường kiến thức, thị trường nghiên cứu.
Dán trên trán đại học là hai lá bùa ghi hai chữ: sản xuất, cạnh tranh.
Đó là đầu mối của sự phân chia giữa các đại học với nhau và giữa lòng
mỗi đại học: giữa các đại học và phân khoa “sản xuất” (phe thắng) và
các đại học, các phân khoa không sản xuất, không sinh lợi (phe thua).

Nghiên
cứu cũng vậy: phe thắng được chi viện, được các xí nghiệp hợp tác; phe
thua sống lây lất, ngay ngáy lo có ngày sập tiệm. Cả chương trình học,
nội dung giảng dạy, nghiên cứu, cả các “ghế” giáo sư cũng thêm, cắt,
đóng, mở, tùy theo tiêu chuẩn đẻ ra tiền hay vô sinh vô dưỡng. Đại học
công vẫn tồn tại, vẫn xem như thực hiện chức vụ công, vẫn sống với tiền
của Nhà nước, nhưng càng ngày càng lệ thuộc vào lợi ích tư, càng xông
vào mê hồn trận của hợp lý hóa tư bản.

Với quyền tự trị lớn
hơn được công nhận, các đại học tranh nhau đi tìm nguồn vốn phụ trội
bên ngoài, săn hợp đồng, mở phòng liên lạc, liên kết với các xí nghiệp,
tân trang chương trình, cải tổ nghiên cứu, quảng cáo, tiếp thị, ứng xử
như một xí nghiệp. Giữa các đại học, đẳng cấp lồ lộ hiện ra, đại học
này là “đại học nghiên cứu”, đại học kia là đại học binh nhì, gỡ gạc sĩ
tử không có tiền đi học xa.


Hình
thức mới nhất đang hấp dẫn các đại học Âu châu là “đại học doanh
nghiệp”,[6] đại học làm doanh nghiệp để thực hiện một chức năng thứ ba
mới toanh, bên cạnh hai chức năng giảng dạy và nghiên cứu: chức năng
“phát triển kinh tế và xã hội”. Nhân danh chức năng thứ ba cách mạng
này, các trung tâm nghiên cứu của đại học biến thành “bán xí nghiệp” -
nghĩa là hoạt động hợp lý giống như xí nghiệp, “chỉ thiếu mỗi mục đích
kiếm lãi mà thôi để trở thành công ty”.[7] Lý tưởng của các trung tâm
ấy là tổ chức cho được một dãy dây chuyền từ khâu nghiên cứu, khâu sản
xuất, đến tận khâu buôn bán sản phẩm cuối cùng.[8]


Học
ở đâu phương thức hợp lý hóa kiểu dây chuyền như thế để làm sinh lợi
kiến thức? Hãy nhìn các nhà hàng fast food của McDonald trên khắp thế
giới. Hãy học cách tổ chức, cách quản lý, và nhất là cái tài tập hợp
mọi khả năng để tạo ra một sản phẩm đồng bộ trong hàng ngàn quán ăn
trên khắp thế giới: bánh mì ấy, miếng thịt ấy, mùi vị ấy, khẩu vị ấy.
Hãy nằm lòng bốn tiêu chuẩn của quán ăn: phải có hiệu quả, phải có thể
tính toán được, phải có thể đoán trước được, phải có thể kiểm soát
được.[9] Đại học công phải biết: vì tất cả đều là cạnh tranh, câu hỏi
“ai tài trợ” không quan trọng nữa mà là: “quản lý thế nào”. Đại học
công có thể nhận tài trợ từ khu vực tư miễn là đạt cho được tính hiệu
quả. Hãy nhìn McDonald làm ăn để “McDonald hóa đại học”.[10] Đại học cổ
điển nhấn mạnh công bằng xã hội; đại học tân thời ưu tiên hiệu quả. Đại
học ngày hôm qua nâng cao tính nhân bản; đại học ngày hôm nay dạy dỗ
tiếp thị khả năng. “Xã hội tri thức” ngày nay cần những đại học hiệu
quả như thế, những trung tâm nghiên cứu hiệu năng như thế, để cạnh
tranh thắng lợi.


Cho
nên, các nguyên thủ quốc gia trong Cộng Đồng Âu châu họp nhau tại
Lisbonne, tháng 3 năm 2000, vạch ra “chiến lược 2010” với mục tiêu biến
Cộng Đồng thành “một nền kinh tế tăng trưởng có sức cạnh tranh mạnh
nhất trên thế giới, năng động nhất thế giới”, hòng thúc đẩy một xã hội
tri thức dựng trên thông tin, gắn chặt với “nền kinh tế mới“, có khả
năng phát triển một thị trường duy nhất về dịch vụ và kỹ nghệ. Nói
khác: chung sức nhau để cạnh tranh và để làm ít nhất là bằng Mỹ.


Cạnh
tranh, nghĩa là bảo vệ sản phẩm của mình trên thị trường nội địa, tấn
công vào thị trường thế giới. Riêng trong lĩnh vực giáo dục, sách nào
cũng nói: giáo dục là một thị trường khổng lồ, 2000 tỷ đô la, gấp đôi
thị trường xe hơi,[11] 50 triệu người làm việc, 1 tỷ khách hàng học
sinh, sinh viên.[12] “Đó là một trong những thị trường lớn nhất và tốc
độ tăng trưởng nhanh nhất, trong đó các tác nhân hiện tại không đáp ứng
nổi nhu cầu”.[13] Người tiêu thụ tư đông vô kể như thế, đại học Âu
châu, “làm cho bằng Mỹ”, tất cũng phải xông như Mỹ vào cái thị trường
béo bở kia và đồng thời bảo vệ thị trường của mình. Người tiêu thụ tư,
phương thức quản trị tư: trên hai cái đích ấy, đại học tiến dần đến chỗ
biến mình thành hàng hóa, dưới sự thúc đẩy của các cơ quan quốc tế.


Đại học thị trường hóa








Có thị trường hoá đại học được không?
Ảnh minh hoạ

quan quốc tế nói ở đây, trước hết là WTO. Tổ chức thương mại quốc tế
này, ai cũng biết; ít biết hơn là GATS, Thỏa ước tổng quát về thương
mại dịch vụ, khí cụ của WTO. Ký năm 1995, thỏa ước này trù liệu mở
toang cửa cho tự do mậu dịch về dịch vụ sau một thời hạn thương thuyết
10 năm; như vậy đáng lẽ thương thuyết đã kết thúc vào ngày 1-1-2005 nếu
không có sự cố canh nông xảy ra: đùng một cái, thương thuyết tổng quát
hơn của WTO về tài trợ canh nông thất bại tại Cancun năm 2003, lôi kéo
theo đình chỉ thương thuyết về dịch vụ. Giáo dục nằm trong danh sách
những “dịch vụ” nói trên. Tháng 7 năm 2002, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan và Nhật
đòi thả lỏng đại học, thả lỏng việc đào tạo người trưởng thành, việc
đánh giá phẩm chất của giảng dạy và của trắc nghiệm.[14] Thương thuyết
chính thức ngưng, nhưng thương thuyết ngầm vẫn tiếp diễn suốt năm 2004,
áp lực vẫn duy trì.


WTO phân biệt 4 hình thức tự do mậu dịch quốc tế về giáo dục:


Một,
và quan trọng nhất, là “tiêu thụ tại ngoại quốc”: đây là hình thức liên
quan đặc biệt đến đại học. Học tại nước ngoài được xem như “xuất khẩu”
dịch vụ giáo dục. Năm 1995, số lượng của mậu dịch này là 27 tỷ đô la
riêng cho mức đại học; Mỹ chiếm hàng đầu (7 tỷ), sau đó là Pháp, Đức,
Anh. Đòi hỏi trong lĩnh vực này là xóa bỏ những biện pháp hạn chế sự đi
lại của sinh viên: thủ tục nhập cư, kiểm soát hối đoái, tương đương
bằng cấp ... Tôi hân hạnh được đọc một mẫu tin ngắn nóng hổi trên báo
mạng Tia Sáng, ngày 18-6-2008, về một “liên hiệp các trường đại học và
doanh nghiệp đào tạo công nghệ thông tin Việt Nam” đứng ra mua bản
quyền chương trình giảng dạy của trường Carnegie Mellon, đại học Mỹ chủ
trương xuất khẩu giáo dục. Theo tin tôi biết, Việt Nam trước hêt cử 5
người qua Mỹ học một tháng rồi về dạy lại; chi phí sơ sơ 2 triệu đô la
trả trước.


Thứ
hai là “cung cấp dịch vụ”, hình thức càng ngày càng phát triển và phát
triển nhanh nhất, với việc bán giáo trình qua internet, CD-Rom, DVD.
Yêu cầu trong lĩnh vực này là tạo dễ dàng cho giới trẻ vào internet,
hủy bỏ luật lệ về giáo dục từ xa, công nhận tương đương cho các giáo
trình, thừa nhận bằng cấp trên quốc tế... Tên cúng cơm của hình thức
“bán cái đầu” này là e-learning, học vô biên giới, đâu còn thầy trước
mắt nữa để dọa “không thầy đố mày làm nên”?


Thứ
ba là “hiện diện thương mại”, liên quan đến việc mở những trường đào
tạo tư do các xí nghiệp nước ngoài kiểm soát. Nước sở tại phải xóa bỏ
những cản trở như: từ chối không công nhận trường nước ngoài, cấm cấp
phát văn bằng, bày đặt ra những điều kiện về quốc tịch ...


Cuối
cùng là “hiện diện của nhân viên”, hậu quả của hình thức thứ ba vừa
nói. Không được hạn chế số lượng của các người đến giảng dạy.[15]


Giáo
dục trở thành business. Một business có tham vọng đuổi ra khỏi đầu hình
ảnh muôn đời sâu đậm về “mái trường”, về “thầy cô”. Trường vô hình.
Thầy cô không có mặt mũi. Trong ba ngôi báu của đức Khổng - Quân, Sư,
Phụ - đố ngài biết sư là ai.


Thế
nhưng không phải ai cũng chấp nhận trào lưu đó. Mà dù có chấp nhận vì
biết không thể cưỡng lại được, sự chấp nhận vẫn có giới hạn. Giữa quan
niệm hàng hóa và quan niệm công ích, tranh luận về giáo dục trở nên
phức tạp, cả hai luận lý không chừng phải chung sống với nhau, dù xung
khắc. Đây là cách nhìn thứ hai.

Phần sau: Đại học giữa hai luận lý


  • Cao Huy Thuần (Giáo sư emeritus Đại Học Picardie, Pháp)

--------------------
C
hú thích:
 [1] D.
Guellec và P. Ralle, Les nouvelles théories de la croissance, La
Découverte, coll. Repères, 1995, tr. 52, trích dẫn bởi Christian Laval,
L’Ecole n’est pas une entreprise, La Découverte, 2003, tr. 44.

[2]
Edward F. Denison, Why Growth Rates Differ? Postwar Experience in Nine
Western Countries, Brookings Institution, Washington DC, 1967, trích
dẫn bởi Eric Delamotte, Une introduction à la pensée économique en
éducation, PUF, 1998, tr. 99.

[3] Gary Becker, Human Capital, xem Christian Laval, sđd, tr. 46.

[4] Như trên, tr. 48.

[5] J-F Lyotard, trích dẫn bởi R. Cowen, Performity, Post-Modernity and the University, Comparative Education, 32, 2, 18 (1996).

[6]
Tiếng Anh: Entrepreneurial University. Tác giả tiên phong là B.R. Clark
và tác phẩm đầu tiên là Creating the Entrepreneurial University,
Oxford, IAU Press/Pergammon, 1998.

[7] H. Etzkowitz, Research
Groups as “Quasi-Firms”: The Invention of the Entrepreneurial
University, Research Policy, vol. 32, 2003, tr. 109-121, trích dẫn bởi
Allan N. Gjerding và tập thể, L’Université entrepreneuriale: vingt
pratiques distinctes, Politiques et Gestion de l’Enseignement
supérieur, Vol. 18, n°3, OCDE 2006.

[8] H. Etzkowitz, The
Evolution of the Entrepreneurial University, International Journal of
Technology and Globalisation, Vol. 1, n°1, 2004.

[9] Tiếng Anh:
Efficiency, Quantification and Calculability, Predictability, and the
Substitution of non-human technology for human technology (or Control).
Xem D. Hartley, The McDonaldization of Higher Education: Food for
Thougth?, Oxford Review of Education, 21, 4 (1996).

[10] Như trên

[11]
Các con số và trích dẫn lấy từ: L’Education: Bien public et/ou
marchandise, Année de la recherche en Sciences de l’Education,
L’Harmattan, 2005, tr. 41 và tài liệu: OMC: L’Education
deviendra-t-elle une marchandise?
http://www.unesco.org/courier/2000_02/fr/apprend/txt1.htm 
Xem thêm những con số đưa ra trong sách đã dẫn của Christian Laval, tr. 149. Cả chương 6 của quyển sách dành cho vấn đề này.

[12]  Như trên

[13] Như trên

[14]
L’Education: Bien public et/ou marchandise, sđd, tr. 41. (Bài viết của
Bernard Charlot, L’Ecole française face à la poussée néolibérale).

[15]  Trích từ tài liệu OMC nói ở trên.



(Theo GS.Cao Huy Thuần)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo Luận


Những bản tin khác:
Cảnh báo và hy vọng [17.02.2009 11:15]
Văn hóa để làm gì? [16.11.2008 17:55]
Một cách tiêu đẹp [12.09.2008 11:49]
Giá của tri thức [03.10.2007 22:50]



Lên đầu trang

  Bản tin mới
Văn hóa sáng tạo ở zappos.com
Hai công cụ lãnh đạo thông qua xung đột
Cảnh báo và hy vọng
HAI MẶT TRONG KINH DOANH
Từ chuột sang trâu
Giáo dục sự thật
Văn hóa để làm gì?
Những viên đá lớn
Ba Con Khỉ
sói, gấu và cáo
Thiền định : phương thuốc tân tiến giúp cơ thể thích ứng với trạng thái toàn cầu hoá.
10 viên gạch xây nên chiến lược cạnh tranh của Michael Porter
THIỀN và SỨC KHỎE
Đại học là hàng hóa hay công ích
Đại học giữa hai luận lý
  Đăng nhập
Bí danh
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ
  Nhận bản tin
Email của bạn

Định dạng tin

  Thăm dò dư luận
Bạn thích chuyên mục nào?

 Bài báo hay
 Sổ tay quản trị
 Quan sát mỗi ngày
 Khám phá
 Nghệ thuật sống
 Bài viết tác giả
 Sống khỏe
 Doanh nhân-Danh N
 WTO
 Khác



Kết quả
Những thăm dò khác

Bài trả lời: 42
Thảo luận: 0
  Danh ngôn
Yêu nghĩa là không bao giờ phải nói "rất tiếc".
SOPHOCLE.
  Lời khuyên


Lời khuyên

Đừng nên dễ dàng tin vào những gì bạn nghe, đừng tiêu xài hết tiền bạn đang có, không nên muốn ngủ bao lâu thì ngủ bao lâu.
Xin thành thật và thật lòng khi nói câu “I love you”
Bất kể lúc nào khi nói câu “xin lỗi”, xin hãy nhìn thẳng vào mắt của đối phương.
Hãy tin vào tiếng sét ái tình.
Đừng bao giờ coi thường mơ ước của người khác.
Bạn có thể bị tổn thương nếu yêu một người một cách say đắm, nhưng nó là phương pháp duy nhất khiến con người bạn trở nên toàn diện.
Dùng phương pháp tinh vi và xác thật để giải quyết tranh chấp, không nên xúc phạm người khác.
Đừng bao giờ đánh giá con người qua bề ngoài.
Nói từ từ nhưng phải suy nghĩ nhanh.
Khi người khác hỏi những điều mà bạn không muốn trả lời, xin hãy cười và nói “tại sao bạn lại muốn biết điều đó?”
Gọi điện thoại cho mẹ, nếu không thể, ít nhất trong lòng bạn phải nghĩ về mẹ.
Một khi gặp phải thất bại, bạn nên nhớ phải lấy đó làm kinh nghiệm học tập của bạn.
Hãy ghi nhớ ba chữ “trọng”: tôn trọng mình; tôn trọng người khác; giữ lấy tôn trọng, phải có trách nhiệm đối với hành vi của mình.
Đừng nên để việc tranh chấp nhỏ đi hủy hoại tình bạn vĩ đại.
Bất luận lúc nào khi bạn phát hiện bạn làm sai, xin hết lòng tìm cách bù đắp. Phải nhanh chân lên!
Bất luận lúc nào khi bạn nghe điện thoại, khi nhấc điện thoại lên xin bạn hãy cười lên, vì đối phương sẽ cảm nhận được nụ cười của bạn!
Hãy kết hôn với người mà bạn thích chuyện trò với người đó, vì khi bạn già đi, bạn sẽ phát hiện, thích chuyện trò là một ưu điểm lớn.
Nên chấp nhận sự thay đổi, nhưng không phải vứt bỏ quan niệm của mình.
Hãy nhớ rằng, im lặng là vàng.
Hãy dành nhiều thời gian để đọc sách, ít xem ti vi.
Tin tưởng vào thượng đế, nhưng đừng quên khóa cửa.
Khi bạn cãi vã với người yêu, xin hãy giải quyết bằng lý trí, không nên moi những gì đã qua ra nói.
Đừng trốn tránh ngày hôm qua.
Nên chú ý ý nghĩa từng câu nói của bạn.
Cùng chia sẽ kiến thức của bạn với người khác, đó mới là đạo vĩnh hằng.
Hãy làm những gì mà bạn phải làm.
Đừng nên tin người không bao giờ nhắm mắt khi hôn bạn
Mỗi năm ít nhất đi một nơi mà bạn chưa hề đi qua.
Nếu bạn kiếm được nhiều tiền, nên làm nhiều việc thiện khi bạn còn sống, đó là một cách trả báo tốt nhất cho bạn.
Hiểu sâu và lý giải đúng tất cả các quy tắc, hợp lý cải tiến những quy tắc đó.
Ghi nhớ rằng: quan hệ tốt nhất là yêu và cho người khác hơn là yêu cầu người khác.
Hãy nhìn lại mục đích mà bạn thề sẽ đạt được và phân tích mình đã thành công đến mức nào.
Bất luận trong nấu ăn hay trong tình yêu, bạn đều phải dùng 100% trách nhiệm trong thái độ đối xử .


14 điều răn của nhà Phật

1. Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình 2. Ngu dốt lớn nhất của đời người là dối trá 3. Thất bại lớn nhất của đời người là tự đại 4. Bi ai lớn nhất của đời người là ghen tỵ 5. Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất mình 6. Tội lỗi lớn nhất của đời người là bất hiếu 7. Đáng thương lớn nhất của đời người là tự ti 8. Đáng khâm phục nhất của đời người là vươn lên sau khi vấp ngã 9. Phá sản lớn nhất của đời người là tuyệt vọng 10. Tài sản lớn nhất của đời người là sức khoẻ và trí tuệ 11. Món nợ lớn nhất của đời người là tình cảm 12. Lễ vật lớn nhất của đời người là khoan dung 13. Khuyết điểm lớn nhất của đời người là kém hiểu biết 14. An ủi lớn nhất của đời người là bố thí.


15 Đoản Khúc Của Cuộc Đời

1. Chớ có đi tìm của cải xa hoa, bởi vì nó chỉ đánh lừa bạn Chớ có đam mê vẻ bề ngoài, bởi vì nó sẽ chóng tàn phai Hãy đi tìm người khiến bạn mỉm cười Bởi vì chỉ có nụ cười mới có thể thắp sáng một ngày tăm tối Hãy cứ hy vọng, rằng bạn sẽ sớm tìm thấy người khiến bạn mỉm cười. 2. Cầu chúc cho bạn có đủ hạnh phúc để trở nên đáng yêu, đủ gian nan để khiến mình mạnh mẽ, đủ nỗi buồn để có lòng nhân ái, đủ hy vọng để biết mình hạnh phúc và đủ tiền để mua những món quà tặng nhau. 3. Khi cánh cửa hạnh phúc đóng lại, cái khác sẽ mở ra Nhưng chúng ta lại thường nhìn quá lâu vào cánh cửa đóng để rồi không thể nhìn thấy cánh cửa nào đang mở sẵn cho ta. Chúng ta không biết có gì chỉ đến khi đánh mất nó Chúng ta cũng chẳng biết đã bỏ lỡ điều gì cho đến khi điều ấy trở lại 5. Hãy luôn đặt ta vào vị trí của người để biết rằng nếu ta đau thì chắc chắn người cũng đau như ta vậy. 6. Khởi nguồn của tình yêu là hãy để người ta yêu được sống như chính họ và đừng cố uốn nắn họ theo hình mẫu của ta Nếu không, ta chỉ yêu hình ảnh phản chiếu của ta trong chính họ mà thôi 7. Có lẽ Chúa muốn ta gặp vài người “khác” trước khi gặp người “ấy” để rồi cuối cùng khi gặp được người “ấy” ta mới biết “món quà” Chúa ban có ý nghĩa biết bao. 8. Chỉ mất một phút để cảm thấy say đắm ai đó, một giờ để thích và một ngày để yêu. Nhưng ta sẽ mất cả cuộc đời chỉ để quên một người 9. Khi bỏ qua tất cả cảm xúc, niềm si mê, sự lãng mạn mà ta vẫn thấy còn yêu thì đó chính là tình yêu. 10. Đáng buồn thay, khi bạn gặp được người rất có ý nghĩa đối với đời bạn thì lại nhận ra người ấy chẳng cùng cảm xúc như bạn. Và bản thân bạn sẽ phải chọn lựa Hoặc ngồi đó mà gặm nhấm nỗi buồn Hoặc để cho điều đó trôi qua mãi mãi 11. Tình yêu bắt đầu bằng một nụ cười, tiến triển bằng một nụ hôn, kết thúc với một giọt nước mắt hay với vòng tay ôm xiết bất tận 12. Tình yêu sẽ đến với những ai vẫn nuôi hy vọng cho dù đã có lần bị phản bội, với những ai vẫn ấp ủ tình yêu cho dù đã có lúc bị chôn sâu trong những vết thương lòng. 13. Sẽ là khổ đau khi yêu ai mà không được đáp lại. Nhưng có gì đớn đau bằng yêu một người mà không tài nào để người ấy biết cảm xúc của ta. 14. Có những điều muốn nghe lại chẳng bao giờ nghe được từ người ta yêu mến Nhưng xin chớ có làm thinh trước những gì mà một người nói với bạn bằng cả con tim 15. Khi sinh ra, bạn khóc trong lúc mọi người xung quanh mỉm cười Hãy sống để khi chết, bạn mỉm cười trong khi những người xung quanh thì khóc Họ khóc vì niềm vui được biết đến bạn

 

Thời gian mở trang: 0.539 giây. Số lần truy cập CSDL: 31
© PHAMPHONG.COM